SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đổi mới thể chế đưa Việt Nam trở thành quốc gia số

[23/02/2025 11:46]

Đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia số, với kinh tế số đóng góp 30% GDP, thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, đặt mục tiêu vào năm 2030 sẽ thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử, kinh tế số đóng góp 30% GDP và năng suất lao động tăng tối thiểu 8% mỗi năm. Tính đến nay, tất cả Bộ, ngành và các tỉnh, thành đã thành lập ban chỉ đạo về chuyển đổi số.

Những con số biết nói đã minh chứng cho sự chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam trong các lĩnh vực chính như thể chế số, hạ tầng số, kinh tế số, xã hội số và chính phủ số, khẳng định vị trí quốc gia trên bản đồ số thế giới. Hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin đã được đầu tư mạnh mẽ. Tốc độ truy cập mạng băng rộng cố định tăng 32,7%, mạng di động tăng 4,7%. Mạng truyền số liệu chuyên dùng kết nối 100% các huyện và 97% xã trên cả nước. Nhiều địa phương đã thí điểm cải cách chuyển đổi số với hệ thống một cửa điện tử, camera an ninh, bán hàng trực tuyến, giúp người dân tiết kiệm thời gian và nâng cao thu nhập.

Chính phủ số đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc ứng dụng công nghệ vào quản lý và cung cấp dịch vụ công. Hiện nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai chính quyền điện tử và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng cho việc quản lý minh bạch và hiệu quả hơn. Khoảng 80% dịch vụ công trực tuyến toàn trình đã được cung cấp, giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với các thủ tục hành chính. Cổng Dịch vụ công quốc gia với hơn 6,8 triệu tài khoản đã xử lý hơn 119 triệu hồ sơ, khẳng định vai trò quan trọng của nền tảng số trong việc nâng cao chất lượng phục vụ công dân.

Mục tiêu và tiền đề Việt Nam trở thành quốc gia số

Về mặt tổng quan, cơ sở cho các chủ trương, chính sách, khung pháp lý của Chiến lược quốc gia về CĐS được khởi động bằng Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 29/9/2019 của Bộ Chính trị. Tiếp đó là Quyết định số 749/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030”; Quyết định số 942/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển CPĐT hướng đến Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2030; Quyết định số 411/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về một số chỉ tiêu về phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và CĐS quốc gia đến năm 2030...

Mục tiêu trở thành quốc gia số cũng đã được Đại hội lần thứ XIII năm 2021 của Đảng đặt ra là: “Phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành xây dựng Chính phủ số; kinh tế số đạt khoảng 30% GDP; đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN về CPĐT, kinh tế số”.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, tiềm lực, trình độ KHCN và ĐMST của Việt Nam đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; Trình độ, năng lực công nghệ, của DN đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực KHCN đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển CPĐT; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế; Tối thiểu có 5 DN công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.

Đánh giá của chính phủ cho thấy:

(i) CĐS là vấn đề mới, khó, phức tạp, cần tiếp thu những thành tựu, kinh nghiệm quốc tế và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam;

(ii) phải có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, “đi trước về trước”, “đi tắt đón đầu”, phát huy tinh thần tự cường, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung;

(iii) phải đổi mới cách làm gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, địa phương, ban chỉ đạo CĐS các cấp

Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng mô hình chính phủ số cho phát triển bền vững

Khung mô hình chính phủ số này nhằm mục đích giúp các quốc gia lập kế hoạch và thực hiện thành công và các sáng kiến chính phủ số bền vững và đảm bảo rằng chúng được trang bị để giải quyết hiệu quả với cả những thách thức hiện tại và tương lai. Theo đó, Báo cáo nhận định rằng trong bối cảnh kỹ thuật số lai đang phát triển, các dịch vụ số đã trở thành điều bắt buộc đối với chính phủ để phục vụ hiệu quả cho người dân, DN và toàn xã hội, giải quyết các nhu cầu đa dạng của cộng đồng và theo đuổi kết quả tối ưu cho phát triển bền vững.

Để tạo ra trải nghiệm liền mạch, toàn diện cho mọi bộ phận dân số, đôi khi với nguồn lực công hạn chế, chính phủ phải áp dụng cách tiếp cận có hệ thống, chiến lược, tích hợp, toàn chính phủ đối với phát triển số được đặc trưng bởi sự thống nhất về chính sách, được hỗ trợ và củng cố thông qua quan hệ đối tác hiệu quả và được hướng dẫn bởi các nguyên tắc và động lực kinh doanh hiệu quả. Việc mang lại các kết quả và tác động mong muốn của chính phủ số đối với phát triển bền vững có thể là một thách thức, đặc biệt là khi các rủi ro và mối đe dọa không được đo lường hoặc đánh giá phù hợp.

Các quốc gia hàng đầu này đã đầu tư vào các nền tảng chính phủ số mạnh mẽ có khả năng quản lý rủi ro và đã chứng minh được tiềm năng thể hiện mức độ phục hồi cao trước những khó khăn hoặc trở ngại trong tương lai. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng số và khuôn khổ quản trị vững chắc trong việc quản lý không chỉ các thách thức hiện tại mà còn cả các thách thức trong tương lai.

Xây dựng hành lang pháp lý cho nền kinh tế số: Nền tảng cơ bản cho Việt Nam tận dụng cơ hội từ CMCN 4.0

Nhiều nước trên thế giới đang chứng kiến những chuyển biến nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0 - 4IR) xuất phát từ đột phá trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, kinh tế số được coi là động lực phát triển của mỗi quốc gia, tạo công ăn việc làm và sự phát triển cho xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó, nhiều nước đã quan tâm và ưu tiên thực hiện CĐS một cách toàn diện từ chính phủ đến xã hội, DN để phát triển kinh tế số. Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay đối với Việt Nam là phải cần hoàn thiện khung pháp lý đầy đủ và chặt chẽ về kinh tế số. Trong đó, CPĐT là tiền đề để hướng tới nền kinh tế số, xã hội số trong bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0.

Với mục đích vừa khuyến khích kinh tế số phát triển nhanh chóng, đúng hướng, đồng thời cũng vừa có thể kiểm soát tốt mô hình kinh tế này, tránh sự phát triển biến tướng thì khung pháp lý là một yếu tố rất quan trọng. Do vậy, khung pháp lý phù hợp, hiệu quả là nhu cầu tất yếu đẩy nhanh tiến độ quá trình chuyển đổi nền kinh tế hiện nay sang nền kinh tế số. Trong đó, những quy định pháp luật về thực hiện CPĐT, giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng, tội phạm máy tính, quyền SHTT, khả năng cạnh tranh, thuế và an ninh thông tin... sẽ là những nội dung cần phải đặc biệt quan tâm khi xây dựng khung pháp lý cho nền kinh tế số.

Để hiện thực hóa các mục tiêu nói trên, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mới và sửa đổi trong nhiều năm qua trong đó có nhiều quy định tạo thuận lợi CĐS thành công và thực hiện CPĐT, hướng tới Chính phủ số như: Luật Công nghệ Thông tin (CNTT), Luật Báo chí, Luật Quảng cáo, Luật An ninh mạng, Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn thông, Luật Căn cước công dân, Luật Thống kê... Tuy nhiên, vẫn cần chính sách đột phá và tiếp tục tháo gỡ vướng mắc về hành lang pháp lý để có thể hiện thực hóa mục tiêu đặc biệt quan trọng này.

Thứ nhất, đổi mới thể chế đưa Việt Nam trở thành quốc gia số cần nhiều yếu tố đột phá về nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng công nghệ, thể chế - đột phá quan trọng nhất.

Thứ hai, xây dựng CPĐT được chính phủ xác định rõ là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, DN; phát triển CPĐT dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng.

Thứ ba, xây dựng khung pháp lý về kinh tế số tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế số, ban hành, sửa đổi nhiều văn bản luật liên quan như Luật Giao dịch điện tử, Luật An ninh mạng, Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật CNTT, Luật Quản lý thuế, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự... và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Kinh nghiệm từ các nhà lập pháp thế giới khi xây dựng khung khổ pháp luật phát triển nền kinh tế số cho thấy họ đều chú trọng vào những nội dung chính như các giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng, tội phạm máy tính, quyền SHTT, khả năng cạnh tranh, thuế và an ninh thông tin...

Có thể nói, mỗi quốc gia có những chiến lược khác nhau trong xây dựng chính sách pháp luật để đạt được đích đến thành công phát triển nền kinh tế số và tất cả đều là những kinh nghiệm quý để Việt Nam nghiên cứu và xây dựng khung pháp lý phù hợp, hiệu quả.

Tạp chí Thông tin và Truyền Thông, số 1+2/2025
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ