SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Ảnh hưởng của mật độ cây bách thủy tiên (echinodorus cordifolius) đến khả năng sinh trưởng và hiệu suất xử lý nước thải đô thị

[25/01/2026 20:02]

Chất lượng nước mặt tại các kênh đô thị đang đối mặt với tình trạng suy giảm nghiêm trọng do ô nhiễm hữu cơ và giàu dinh dưỡng, chủ yếu bắt nguồn từ nước thải sinh hoạt và hoạt động kinh doanh của các hộ dân ven kênh.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp xử lý ô nhiễm hiệu quả và bền vững. Trong bối cảnh đó, mô hình bè nổi thủy sinh kết hợp với thực vật nổi lên như một hướng đi đầy hứa hẹn. Thực vật thủy sinh đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp môi trường sống lý tưởng cho vi sinh vật phân hủy các chất ô nhiễm trong điều kiện hiếu khí, đồng thời vận chuyển oxy xuống vùng rễ và trực tiếp hấp thụ các chất ô nhiễm từ nước. Việt Nam sở hữu sự đa dạng các loài thực vật thủy sinh có khả năng làm sạch nước như lục bình, thủy trúc, cát lồi, bèo tây, chuối hoa và bách thủy tiên. Tuy nhiên, việc đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng bách thủy tiên đến hiệu quả xử lý nước thải đô thị vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu này ra đời nhằm xác định mật độ trồng bách thủy tiên phù hợp cho mô hình bè nổi xử lý nước thải, qua đó góp phần bảo vệ môi trường và cải thiện cảnh quan đô thị.

Cây Bách thủy tiên - Ảnh minh họa

Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện nhà lưới với thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên, sử dụng cây Bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius) trồng trên bè nổi để xử lý nước thải thu trực tiếp từ kênh Búng Xáng, Thành phố Cần Thơ. Hai mật độ trồng được đánh giá là 1 cây/bè (NT1) và 2 cây/bè (NT2), cùng với một nghiệm thức đối chứng không trồng cây (NT0). Kết quả cho thấy, cây bách thủy tiên sinh trưởng mạnh mẽ dưới cả hai mật độ trồng, với chiều cao cây và chiều dài rễ ở NT1 và NT2 lần lượt tăng 1,70 và 1,65 lần, cùng 7,07 và 6,93 lần so với cây ban đầu. Đặc biệt, tổng khối lượng tươi và khô của cây ở mật độ 1 cây/bè (319,9 g và 22,8 g/cây) cao hơn so với mật độ 2 cây/bè (260,0 g và 17,7 g/cây).

Về hiệu suất xử lý ô nhiễm, mật độ trồng 2 cây/bè (NT2) cho thấy ưu thế vượt trội. Cụ thể, hiệu suất xử lý COD, tổng đạm hòa tan (TIN) và tổng lân (TP) lần lượt đạt 54,2%, 88,3% và 85,3% tại NT2, cao hơn so với 49,7%, 71,8%, 79,4% ở NT1 và 37,3%, 60,5%, 72,7% ở NT0. Nghiên cứu đã khẳng định mật độ trồng có ảnh hưởng đáng kể đến cả sự sinh trưởng của cây bách thủy tiên và hiệu quả xử lý nước thải, trong đó mật độ 2 cây/bè mang lại hiệu quả xử lý cao nhất. Kết quả này mở ra triển vọng ứng dụng cây thủy sinh trong việc xử lý nước thải đô thị và kiến tạo cảnh quan, đóng góp vào giải pháp xử lý ô nhiễm nước một cách thân thiện với môi trường.

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(4): 420-42
Xem thêm
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ