SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đánh giá khả năng xử lý mangan trong nước bằng vật liệu lọc được bổ sung NaClO

[27/01/2026 17:23]

Tài nguyên nước luôn đóng vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội, và nước sạch được nhìn nhận như một nhu cầu căn bản đã được xác lập trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (Alexakis, 2021; Hülsmann et al., 2019). Tuy nhiên, sự ô nhiễm ngày càng gia tăng do tác động của công nghiệp, sinh hoạt và nông nghiệp đã làm nổi bật mangan (Mn2+) như một thách thức sức khỏe và môi trường đáng kể.

Mn2+ trong nước mặt và nước ngầm đến từ nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn môi trường, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng cho cộng đồng. Các dữ liệu khảo sát tại Việt Nam cho thấy mức độ nghiêm trọng này ở mức độ khu vực: ở Hà Nội và vùng phụ cận, có đến 76% mẫu nước giếng vượt ngưỡng khuyến cáo của WHO (0,4 mg/L) với giá trị trung vị trên 1 mg/L (Agusa et al., 2005); ở Hà Nam, hơn 70% trong 66 mẫu nước ngầm vượt quy chuẩn Việt Nam (0,3 mg/L); và tại đồng bằng sông Mekong, 74% trong 404 mẫu nước ở bốn tỉnh khảo sát (2007–2008) có Mn2+ trên 0,05 mg/L, thậm chí một số mẫu lên tới 14 mg/L. Tình hình nghiêm trọng hơn tại An Giang và Đồng Tháp với tỷ lệ mẫu không đạt chuẩn lên tới 93% (Hoang et al., 2010),... Những dữ liệu này không chỉ phản ánh nguy cơ phơi nhiễm mà còn gợi ý một nhu cầu cấp thiết về các giải pháp xử lý nước hiệu quả, bền vững và dễ triển khai tại nguồn nước cấp địa phương.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu tập trung khảo sát hiệu quả loại bỏ Mn2+ bằng phương pháp lọc kết hợp với tác dụng oxy hóa của NaClO. Mô hình thí nghiệm được triển khai trên cột lọc quy mô phòng thí nghiệm với nước nhiễm Mn2+ nhân tạo và ba loại vật liệu lọc phổ biến: cát thạch anh, cát mangan và zeolit. Các thông số được hệ thống hóa nhằm phản ánh điều kiện thực tế: nồng độ Mn2+ đầu vào từ 5 đến 25 mg/L, nồng độ và thể tích NaClO từ 2–10 mg/L và 2–10 mL, thời gian phản ứng từ 1 đến 8 giờ, duy trì ở pH 7 ± 0,2 và nhiệt độ khoảng 25°C. Việc đo nồng độ Mn2+ được tiến hành theo chuẩn Việt Nam TCVN 6002:1995 bằng phương pháp trắc quang với dung dịch formaldoxim, cho phép đánh giá hiệu quả loại bỏ ở từng điều kiện thí nghiệm. Mục tiêu chung là đánh giá vai trò của zeolit vừa như vật liệu lọc vừa như chất xúc tác, đặc biệt khi kết hợp với NaClO, nhằm tối ưu hóa hiệu suất và đảm bảo Mn2+ sau xử lý nằm trong giới hạn cho phép.

Ảnh minh họa

Kết quả nghiên cứu cho thấy, zeolit thể hiện hiệu suất loại bỏ Mn2+ cao nhất. Trong điều kiện không có NaClO, zeolit đạt khoảng 97,7% hiệu quả loại bỏ; khi có sự bổ sung NaClO, hiệu suất tăng lên tới 99,8%, nhờ vào sự hình thành và xúc tác của MnOx trên bề mặt zeolit. Nồng độ Mn2+ cuối cùng sau xử lý rơi về mức dưới 0,1 mg/L, phù hợp với yêu cầu của QCVN 01-1:2018/BYT. Bên cạnh đó, NaClO đóng vai trò tăng cường hiệu quả xử lý, cho thấy sự phối hợp giữa oxi hóa mạnh và cơ chế hấp phụ của vật liệu lọc có thể mang lại lợi ích vượt trội cho hệ thống nước sinh hoạt. Phát hiện này không chỉ làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của zeolit mà còn mở đường cho các thiết kế hệ thống xử lý nước cấp tại địa phương, nơi Mn2+ là một vấn đề cấp thiết. Bên cạnh zeolit, NaClO cũng có tác dụng cải thiện hiệu quả lọc của cát thạch anh và cát mangan, cho thấy cơ chế kép vừa oxy hóa vừa tăng cường hiệu suất vật liệu lọc có thể được khai thác để tối ưu hóa chi phí và hiệu suất trong thực tiễn. Từ đây, tiềm năng ứng dụng trong xử lý nước cấp được mở rộng, nhằm kiểm soát nồng độ Mn2+, nâng cao chất lượng nước và bảo vệ sức khỏe cộng đồng trong bối cảnh nguồn nước ngày càng bị đe dọa do ô nhiễm mangan.

Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 61, Số 6A (2025): 77-87
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ