Chuyển đổi số trong kinh doanh nông sản OCOP tại Tiền Giang: Thực trạng, thách thức và giải pháp
Chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành xu thế chiến lược trong phát triển kinh tế toàn cầu, và Việt Nam đang ở vị trí nổi bật nhờ định hướng Chính phủ xem CĐS là yếu tố then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Ảnh minh họa
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, CĐS đóng vai trò quan trọng nhất ở việc chuyển đổi giá trị gia tăng cho từng sản phẩm địa phương, biến các mặt hàng vốn còn kém tiếng tăm thành tài sản số hóa có độ tiếp cận rộng. Đến với OCOP giai đoạn 2021 – 2025, mục tiêu ứng dụng công nghệ số được nhấn mạnh nhằm nâng tầm thương hiệu và mở rộng thị trường cho các sản phẩm OCOP, từ đó biến mỗi xã thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng số của toàn quốc (Prime Minister of Vietnam, 2022). Tại Tiền Giang, vùng đất giàu tiềm năng nông sản, CĐS được kỳ vọng là động lực hiện đại hóa hoạt động kinh doanh, giúp các chủ thể OCOP tiếp cận sâu hơn thị trường trực tuyến và tối ưu hóa chuỗi cung ứng từ sản xuất đến phân phối. Những tín hiệu từ thị trường cho thấy thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam năm 2024 đạt 22 tỷ USD và được dự báo chạm 63 tỷ USD vào năm 2030 (Vietnam News Agency, 2024), cùng với hơn 86% dân số sử dụng Internet và dự tính 82 triệu người sẽ dùng smartphone vào năm 2025 (U.S. Department of Commerce, 2024). Những con số này cho thấy tiềm năng to lớn và cơ hội rộng mở cho cả doanh nghiệp lớn và hộ sản xuất nhỏ ở nông thôn, đặc biệt khi xu hướng mua sắm qua mạng xã hội, livestream trên TikTok và bán hàng trực tuyến đang bùng nổ, giúp OCOP vươn xa hơn trên thị trường trong nước và quốc tế.
Dù tiềm năng đang hiện hữu, kết quả báo cáo và thực tiễn cho thấy các chủ thể OCOP, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh, vẫn đối mặt với nhiều rào cản trong quá trình số hóa. Thiếu kỹ năng công nghệ và hạn chế nguồn lực tài chính là hai thách thức nổi lên hàng đầu, song song với hạ tầng internet không đồng đều giữa các vùng miền và giữa khu vực đô thị với nông thôn. Bên cạnh đó, hiện tượng thiếu thông tin về hỗ trợ chính sách và cơ chế ưu đãi khiến nhiều chủ thể OCOP chưa tận dụng được các cơ hội số hóa một cách hiệu quả. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với chi phí đầu tư ban đầu cao cho hệ thống quản trị dữ liệu, nền tảng bán hàng và marketing số, trong khi nguồn lực nhân lực có trình độ công nghệ còn hạn chế ở nhiều địa phương. Chúng ta đang ở ngã ba lựa chọn: tiếp tục duy trì cách làm cũ với hiệu quả ngày càng giảm sút hay đón nhận và đẩy mạnh số hóa như một quyết định chiến lược để sống còn và phát triển bền vững.
Chuyển đổi số trong kinh doanh OCOP tại Tiền Giang đang thể hiện là một xu hướng tất yếu, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường cho các chủ thể OCOP. Nghiên cứu khảo sát 70 chủ thể OCOP (tỷ lệ hồi đáp 43,8%) cho thấy một phần tư người tham gia kết hợp bán hàng trực tuyến và truyền thống, trong khi phần lớn nhận thấy CĐS đã cải thiện hoạt động kinh doanh và hiệu quả vận hành. Khó khăn chính vẫn tập trung ở năng lực công nghệ (40%), thiếu thời gian (32,9%), và thiếu thông tin về hỗ trợ chính sách (gần 60% chưa tận dụng). Dù hạ tầng internet đang được đánh giá ở mức trung bình trở lên (88,6% đánh giá ở mức này hoặc cao hơn), chỉ 17,2% thường xuyên sử dụng TikTok Shop hay Shopee, cho thấy tiềm năng tăng trưởng còn lớn với sự tham gia tích cực từ phía chủ thể OCOP. Dự báo tích cực cho sự tham gia tương lai được thể hiện qua 88,6% người tham gia khảo sát cho biết sẽ tham gia trong thời gian tới. Những kết quả này cho thấy sự đồng thuận ngày càng tăng về vai trò của số hóa và cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính sách công, nền tảng số và nguồn lực để biến tiềm năng thành giá trị thực tế trên thị trường.
Dựa trên nhận định và kết quả khảo sát, nên tập trung các ưu tiên hành động nhằm thúc đẩy CĐS gắn với phát triển nông thôn ở Tiền Giang và các địa phương tương tự. Thứ nhất, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số cho người tham gia OCOP, từ cơ bản đến nâng cao như quản trị dữ liệu, marketing số, quản lý chuỗi cung ứng và an toàn thông tin. Thứ hai, tăng cường truyền thông về chính sách hỗ trợ và cơ chế ưu đãi để doanh nghiệp và hộ sản xuất nhận thức rõ hơn về quyền và lợi ích khi tham gia các nền tảng số, cũng như các chương trình vay vốn, gói hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo theo địa bàn. Thứ ba, hoàn thiện hạ tầng công nghệ và hệ sinh thái số tại địa phương: nâng cấp mạng lưới kết nối, đảm bảo băng thông và ổn định, đồng thời xây dựng các nền tảng quản trị dữ liệu và hệ thống thanh toán phù hợp cho nông sản OCOP. Thứ tư, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng số hóa giữa sản xuất, chế biến và phân phối vùng, qua đó tối ưu hoá chi phí logistics, giảm thất thoát và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm OCOP. Thêm vào đó, cần tăng cường truyền thông marketing số, đặc biệt trên các kênh như TikTok Shop, Shopee và các nền tảng mạng xã hội phổ biến khác, để nâng cao nhận diện và mở rộng thị trường cho OCOP. Cuối cùng, cần khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp lớn và các đối tác công – tư để xây dựng và vận hành các mô hình thí điểm, nghiên cứu và nhân rộng các mô hình thành công, nhằm biến Tiền Giang và các địa phương có OCOP thành những điểm sáng về phát triển nông thôn bền vững thông qua CĐS.
Tạp chí Khoa học Đ ại học Cần Thơ, Tập 61, Số 6B (2025): 183-193