SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Ảnh hưởng của Brassinolide xử lý trước thu hoạch đến năng suất và chất lượng trái quýt hồng (Citrus recticulata Blanco)

[28/01/2026 17:04]

Quýt hồng (Citrus recticulata Blanco) tại Đồng Tháp những năm gần đây chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa, và vẫn tồn tại khoảng trống lớn về nghiên cứu và phát triển loại quả này.

 Ảnh minh họa

Nguồn tài liệu khoa học trong nước dành cho quýt hồng còn rất hạn chế, khiến các chiến lược phát triển còn mang tính chất quan sát và kinh nghiệm hơn là được hệ thống hóa bằng dữ liệu khoa học. Kỹ thuật canh tác của người nông dân phần lớn dựa vào tập quán truyền thống và “cha truyền con nối”, dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa đạt mức tối ưu và còn nhiều thách thức về tính đồng nhất, kích cỡ và độ ngọt của trái. Một trong những vấn đề tồn tại là neo trái trên cây khi còn non khiến cây chịu stress kéo dài, dẫn tới chai trái và khô đầu múi – hiện tượng ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chất lượng vụ mùa cũng như sự tin tưởng của thị trường địa phương. Ngoài các biện pháp bảo quản sau thu hoạch được đề cập trong các nghiên cứu trước đây (Nguyen, 2005), còn chưa có nhiều nghiên cứu hệ thống về xử lý trước thu hoạch nhằm tăng kích thước trái, cải thiện màu sắc cảm quan và phẩm chất, đồng thời kéo dài thời gian tồn trữ để nông dân có thể bán được giá cao dịp Tết. Trong bối cảnh đó, Brassinolide nổi lên như một ứng viên quan trọng để xem xét tác động của nó lên phát triển và chất lượng trái cây nói chung, và quýt hồng nói riêng, khi được phối hợp với các chất điều hòa sinh trưởng khác như ABA, auxin và GA.

Brassinolide được công nhận là một hormone thực vật có vai trò then chốt trong nhiều quá trình sinh lý và phát triển của thực vật, từ tăng khả năng chịu đựng stress nhiệt đến cải thiện năng suất và chất lượng trái cây. Nhiều nghiên cứu cho thấy Brassinolide có thể tăng tỷ lệ đậu trái, cải thiện độ ngọt, nâng cao hàm lượng chất hữu cơ và vitamin, cũng như cải thiện màu sắc vỏ và hạn chế rụng hay nứt trái ở các loại trái cây ăn quả khác nhau (Meena et al., 2018; Mahorkar et al., 2018). Bên cạnh đó, nhóm yếu tố dinh dưỡng khoáng như Canxi, Bo, Magie cũng đã được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực khi xử lý trước thu hoạch, giúp nâng cao năng suất và phẩm chất quả theo các nghiên cứu gần đây (Muengkaew et al., 2018). Tuy vậy, phạm vi ứng dụng của Brassinolide trên nhiều đối tượng cây ăn quả vẫn còn hạn chế và cần được làm sáng tỏ bởi các nghiên cứu thêm (Hussain et al., 2020; Li & He, 2020). Vì vậy, việc đánh giá và tối ưu hóa liều lượng cũng như thời điểm phun Brassinolide trước thu hoạch là một hướng đi có triển vọng để nâng cao chất lượng và thời gian tồn trữ của quýt hồng ở Đồng Tháp, từ đó tăng cơ hội cạnh tranh và giá trị thị trường cho sản phẩm dịp Tết. Đoạn này nhấn mạnh sự liên hệ giữa Brassinolide với các mục tiêu thực tế của nông dân và thị trường nội địa.

Nghiên cứu được thiết kế nhằm tìm ra liều lượng và thời gian phun Brassinolide thích hợp trước thu hoạch để quýt hồng có kích thước lớn hơn, màu sắc hấp dẫn và chất lượng tốt hơn. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, với hai nhân tố: (A) Brassinolide ở các nồng độ khác nhau và (B) số lần phun khác nhau, nhằm đánh giá hiệu quả của từng yếu tố và sự tương tác giữa chúng. Các biến đo lường bao gồm các tham số năng suất và chất lượng trái: khối lượng trái, tổng năng suất trên diện tích, độ Brix của thịt trái, và các chỉ tiêu hình thái - sinh lý như màu sắc vỏ, tỷ lệ khô đầu múi, tỷ lệ múi khô trên quả và các chỉ số liên quan đến độ chín. Kết quả đã cho thấy việc xử lý Brassinolide trước thu hoạch có tác dụng tích cực và đáng kể đối với các chỉ tiêu này. Cụ thể, nồng độ Brassinolide 1 ppm với hai lần phun ở 113 và 105 ngày trước thu hoạch cho thấy hiệu quả tối ưu nhất, tăng khối lượng trái lên 61,54 g, nâng tổng năng suất lên 67,70 tấn/ha và giảm tỷ lệ khô đầu múi. Đồng thời, nồng độ này cũng làm tăng độ Brix của thịt trái lên 13,47%, giảm tỷ lệ trái bị khô đầu múi ở mức 6,49%, và giảm tỷ lệ múi khô trên trái xuống 5,74%, với tỷ lệ chiều dài múi khô chỉ 2,88%. Những kết quả này cho thấy khả năng Brassinolide cải thiện chất lượng trái và kéo dài thời gian thu hoạch có thể là một chiến lược hiệu quả cho sản xuất quýt hồng ở vùng Đồng Tháp, đặc biệt là trước thời điểm Tết Nguyên đán.

Phát hiện cho thấy việc tối ưu hóa liều lượng và thời gian phun Brassinolide trước thu hoạch có ý nghĩa thiết thực đối với sản xuất quýt hồng ở Đồng Tháp. Việc tăng khối lượng và năng suất cùng với nâng cao các chỉ tiêu chất lượng như độ ngọt, màu sắc vỏ và tỷ lệ khô đầu múi có thể làm tăng giá trị thương phẩm và mở rộng cơ hội cạnh tranh trên thị trường nội địa và dịp Tết. Kết quả cho thấy nồng độ Brassinolide 1 ppm, phun ở 113 và 105 ngày trước thu hoạch là tối ưu cho các tham số đo được, đồng thời đem lại lợi ích kinh tế cho nông dân khi tăng sản lượng và cải thiện chất lượng quả. Tuy nhiên, để chuyển đổi các kết quả thí nghiệm thành khuyến cáo thực tế và áp dụng rộng rãi trên quy mô sản xuất, cần tiến hành nghiên cứu mở rộng với nhiều vùng trồng khác nhau ở Đồng Tháp và khu vực lân cận, cùng với đánh giá tác động môi trường và chi phí đầu tư. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào các yếu tố như tương tác Brassinolide với ABA, GA và các chất điều hòa khác, ảnh hưởng của điều kiện khí hậu và thâm canh tới hiệu quả xử lý trước thu hoạch, cũng như đánh giá tác động môi trường, chi phí – lợi ích và tính khả thi kinh tế trên nhiều vùng trồng khác nhau ở Đồng Tháp và khu vực lân cận.

Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 61, Số 6B (2025): 194-209
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ