SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Phân tích hiệu quả kỹ thuật của mô hình sản xuất lúa hữu cơ tại thị xã Cai Lậy, Tiền Giang

[28/01/2026 17:23]

Thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, hiện có gần 9.000 ha diện tích sản xuất lúa. Năm 2019, Cai Lậy được quy hoạch thành vùng trọng điểm của tỉnh về sản xuất lúa công nghệ cao, trong đó mô hình sản xuất lúa hữu cơ được xác định là định hướng trọng tâm nhằm kết nối chuỗi giá trị và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản địa phương.

 Ảnh minh họa

Chuyển đổi sang lúa hữu cơ không chỉ mở ra một hướng đi mới theo định hướng tiêu dùng bền vững mà còn đồng hành với các chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ: Nghị quyết 19-NQ/TW về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, và Quyết định 150/QĐ-TTg về chiến lược nông nghiệp - nông thôn bền vững. Tuy nhiên thực tế cho thấy tỷ lệ diện tích chuyển đổi sang hữu cơ vẫn rất thấp, chỉ chiếm khoảng 2% tổng diện tích lúa, đặt ra thách thức lớn cho việc mở rộng mô hình. Trên nền tảng đó, nghiên cứu được thiết kế nhằm phân tích hiệu quả kỹ thuật (TE) của hộ sản xuất lúa hữu cơ và hộ sản xuất lúa theo phương thức sản xuất truyền thống ở Cai Lậy, dựa trên dữ liệu khảo sát 120 hộ trong vụ Đông Xuân 2023–2024, với nhóm can thiệp (hộ đã hoàn thành chuyển đổi và được chứng nhận theo TCVN 11041-5:2018) làm chuẩn so sánh nhằm bảo đảm tính đồng nhất và khách quan.

Nghiên cứu được thực hiện với một khung phân tích song song giữa hai nhóm hộ: hữu cơ và truyền thống, nhằm làm rõ tác động của chuyển đổi lên hiệu quả sản xuất và kết quả kinh tế. Dữ liệu thu thập từ 120 hộ trong vụ Đông Xuân 2023–2024 được thiết kế để đảm bảo tính đại diện cho địa bàn và tính tin cậy của so sánh. Nhóm hữu cơ được xác định dựa trên quá trình chuyển đổi đã hoàn tất và quy trình chứng nhận theo chuẩn TCVN 11041-5:2018, giúp níu giữ tính đồng nhất về khung quản lý chất lượng và điều kiện canh tác giữa hai nhóm. Phương pháp ước lượng biên ngẫu nhiên (SFA) được lựa chọn để phân tích hiệu quả kỹ thuật, cho phép tách bạch giữa hiệu quả kỹ thuật và chi phí, đồng thời đánh giá ngưỡng và yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến kết quả. Các bước kiểm định giả thuyết, xác định TE trung bình và so sánh giữa hai nhóm được thực hiện trên cùng một mẫu để đảm bảo tính khách quan và có thể tổng quát cho các vùng có điều kiện tương đồng.

Kết quả phân tích cho thấy, TE trung bình của nhóm hộ sản xuất lúa hữu cơ đạt 0,979, thấp hơn một chút so với nhóm hộ đối chứng (truyền thống) đạt 0,998, với mức ý nghĩa thống kê 5%. Sự chênh lệch này chủ yếu gắn với quy trình sản xuất và giới hạn sử dụng vật tư nông nghiệp trong mô hình hữu cơ, cũng như kinh nghiệm hạn chế của người sản xuất và điều kiện tự nhiên địa phương. Dù TE của nhóm hữu cơ có phần chậm hơn, lợi nhuận ròng trên mỗi hecta lại cao hơn gần 7 triệu đồng, chủ yếu nhờ giá bán lúa hữu cơ cao hơn trên thị trường. Điều này cho thấy một sự đánh đổi phù hợp: dù hiệu quả kỹ thuật chưa bằng mô hình truyền thống, lợi nhuận kinh tế và biên lợi nhuận cao hơn của sản phẩm hữu cơ có thể bù đắp khoảng cách TE và tạo động lực cho người dân tiếp tục tham gia chuyển đổi. Như vậy, yếu tố tài chính là động lực then chốt để từng bước mở rộng mô hình lúa hữu cơ, đòi hỏi sự phối hợp giữa chính sách khuyến nông, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng hệ thống thị trường ổn định cho sản phẩm hữu cơ tại địa bàn Cai Lậy và các vùng có đặc điểm tương đồng.

Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một chuỗi đề xuất thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả và mở rộng diện tích lúa hữu cơ. Thứ nhất, tăng cường đào tạo và chuyển giao công nghệ cho người nông dân, tập trung vào quy trình sản xuất, quản lý dinh dưỡng đất, tự chủ nguồn vật tư sinh học, và biện pháp hạn chế sâu bệnh phù hợp với tiêu chuẩn hữu cơ. Thứ hai, đẩy mạnh các chương trình khuyến nông và hỗ trợ tài chính để giảm rủi ro kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi và sau chuyển đổi, bao gồm ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất vay vốn và kết nối với các chuỗi cung ứng đáng tin cậy. Thứ ba, cải thiện hệ thống thị trường cho lúa hữu cơ thông qua xây dựng nhãn hiệu địa phương, chứng nhận và quảng bá sản phẩm, nhằm tăng sức cạnh tranh và đảm bảo thu nhập ổn định cho người sản xuất. Cuối cùng, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm làm cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và mở rộng mô hình hữu cơ tại Cai Lậy và các vùng có điều kiện tương đồng, đồng thời đóng góp cho chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn bền vững ở cấp tỉnh và quốc gia. Việc thực hiện đồng thời các đề xuất này sẽ hỗ trợ Cai Lậy tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành một vùng sản xuất lúa hữu cơ uy tín và bền vững, phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp của thời đại mới.

Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 61, Số 6D (2025): 308-321
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ