Thực trạng về thức ăn và khẩu phần ăn hằng ngày trong chăn nuôi bò thịt nông hộ tại một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng
Dẫn nhập và bối cảnh nghiên cứu ở Lâm Đồng cho thấy ngành chăn nuôi bò thịt (CNBTNH) đang phát triển nhanh nhờ chương trình lai hóa và nâng cấp giống cao sản, góp phần lớn vào ngành bò thịt cả nước.
Nghiên cứu gần đây cho thấy quy mô nuôi hộ gia đình 1–5 con/bộ đang giảm dần, trong khi quy mô 6–10 con/hộ có xu hướng tăng lên và các giống lai cao sản (BBB, Charolais, Sindhi…) ngày càng chiếm ưu thế. Tuy nhiên, nguồn thức ăn thô xanh khan hiếm, đặc biệt vào mùa khô do diện tích trồng cỏ thu hẹp và chi phí nguyên liệu thức ăn tăng cao, điều này ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi. Những khía cạnh này nhấn mạnh nhu cầu đánh giá thực trạng nguồn thức ăn và khẩu phần ăn để đề xuất hướng phát triển CNBTNH bền vững tại địa phương.

Ảnh minh họa
Nghiên cứu đã tập trung đánh giá thực tế về thức ăn và khẩu phần ăn hàng ngày của CNBTNH ở 3 huyện thuộc Lâm Đồng (Cát Tiên, Đơn Dương, Đức Trọng) với tổng 90 hộ được chọn theo mẫu tầng xã và PRA (nghiên cứu cắt ngang). Kết quả cho thấy hai nguồn thức ăn thô phổ biến nhất là rơm (96,67%) và cỏ voi (82,22%), trong khi thức ăn tinh chiếm tỷ lệ đáng kể với cám hỗn hợp (52,22%) và cám gạo (32,22%). Diện tích đồng cỏ trung bình/v hộ là 1.443 m² và không có sự khác biệt đáng kể giữa các huyện. Tỷ lệ thô–tinh cho ăn ước tính là 74,84% – 25,14%, cho thấy chế độ dinh dưỡng hiện tại đa dạng hóa từ các loại thức ăn thô và tinh, nhưng cần thiết lập chuẩn tiêu chuẩn cho ăn và cải thiện lưu trữ thức ăn để tránh hư/mốc.
Khuyến nghị và ý nghĩa thực tiễn: hiện tại chưa có hệ thống cho ăn khẩu phần TMR (bảng số liệu hoàn chỉnh) và người nuôi tự ước lượng thành phần thức ăn, đồng thời điều kiện bảo quản còn yếu. Cần thiết lập tiêu chuẩn và hướng dẫn cho cho ăn CNBTNH, xây dựng chế độ quản lý và bảo quản thức ăn tốt hơn, đồng thời phát triển các giải pháp dự trữ và xử lý thức ăn bị hư/mốc để nâng cao hiệu quả chăn nuôi và tính bền vững của ngành ở Lâm Đồng.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 24(5)/2025 (ntdinh)