SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Định danh và xét nghiệm kháng sinh đồ vi khuẩn Haemophilus parasuis lưu hành trong trại chăn nuôi heo trên địa bàn một số tỉnh phía Nam Việt Nam

[12/02/2026 17:18]

Nghiên cứu này tập trung vào Haemophilus parasuis (HPS) gây bệnh viêm đa thanh dịch ở heo, với triệu chứng điển hình là viêm phổi, màng phổi, phúc mạc, xoang tim, viêm khớp và viêm màng não ở heo non.

Để đánh giá tình hình đề kháng kháng sinh của HPS tại các trại công nghiệp, nghiên cứu thu thập 245 mẫu bệnh phẩm nhằm nuôi cấy, định danh và làm kháng sinh đồ. Trong số đó, 51 mẫu (20,8%) cho thấy khuẩn lạc nghi ngờ HPS, được xác định bằng nhuộm Gram, xét nghiệm hóa sinh và PCR với cặp mồi phát hiện gen mã hóa peptidase M1 có kích thước 275 bp. Từ 21 khuẩn lạc được xác định là HPS, chúng tôi phân tích tính kháng đối với 9 loại kháng sinh thông dụng và ghi nhận hiện tượng đa kháng ở tất cả các mẫu.

Ảnh minh họa

Kết quả kháng kháng sinh cho thấy 7, 6 và 5 loại kháng sinh được vi khuẩn HPS kháng lần lượt ở 33,33%, 28,6% và 23,8% mẫu. Tỷ lệ đề kháng cao nhất với tylosin (91%), sau đó là tilmicosin (81%), tulathromycin (62%), enrofloxacin (62%), và lincomycin/spectinomycin (57%), tiếp đến amoxicillin (52%) và florfenicol (48%). Hai loại kháng sinh có tỷ lệ thấp nhất là ceftiofur (10%) và doxycycline (5%). Những con số này nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của tình trạng đề kháng kháng sinh ở HPS trên heo và nhắc nhở cần có biện pháp can thiệp sớm nhằm cải thiện tình hình.

HPS là trực khuẩn Gram âm thuộc Pasteurellaceae, gây bệnh Glasser ở heo với thể lâm sàng đa thanh dịch, viêm màng não và viêm khớp, đặc biệt ở heo con từ 4–6 tuần tuổi. Vi khuẩn chứa nhiều serovar, với ít nhất 15 serovar được xác định và nhiều chủng địa phương chưa xác định huyết thanh học; các chủng 4, 5, 13, 14 được xem là độc lực cao. HPS thường phát hiện dưới dạng căn nguyên phụ ở heo mắc bệnh tai xanh hoặc đồng thời với các bệnh hô hấp khác như Mycoplasma hyopneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis type 2 và Bordetella bronchiseptica. Độ phức tạp của biểu hiện lâm sàng và sự đồng nhiễm với virus (PCV2, PRRS) làm cho chẩn đoán phân biệt khó khăn, dẫn đến việc sử dụng kháng sinh kéo dài và gia tăng tình trạng kháng kháng sinh ở HPS tại nhiều nước, cả ở chăn nuôi công nghiệp và thú hoang dã. Tại Việt Nam, dữ liệu về dịch tễ và tình trạng kháng thuốc của HPS còn khan hiếm, do đó nghiên cứu phân lập, định danh và đánh giá kháng kháng sinh tại các trang trại miền Nam nhằm làm cơ sở cho các biện pháp kiểm soát hiệu quả là rất cấp thiết.

Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 17(5)/2025 (ntdinh)
Xem thêm
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ