Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong nuôi cá lóc (Channa striata) ở An Giang và Trà Vinh
Nghiên cứu do các tác giả Trần Minh Phú, và Nguyễn Quốc Thịnh - Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ và tác giả Trương Thành Nhân - Trung tâm Chất lư ợng, Chế biến và Phát triển th ịtrường vùng 6 thực hiện nhằm khảo sát hiện trạng sử dụng kháng sinh trên cá lóc (Channa striata) thông qua việc phỏng vấn 103 hộ nuôi tại 2 tỉnh An Giang và Trà Vinh.
Cá lóc (Channa striata) được nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi chất lượng thịt thơm ngon, giá thành hợp lý và thị trường tiêu thụ ổn định với đa dạng các mô hình nuôi như nuôi thâm canh trong ao đất, nuôi vèo trong ao và nuôi trong bể lót bạt, đã thúc đẩy sự tăng trưởng vượt bậc về diện tích và sản lượng nuôi trong nhiều năm qua. Từ năm 2006 đến 2016, diện tích nuôi tăng mạnh từ 132 ha lên 553 ha và sản lượng cá lóc từ 16.000 tấn tăng 86.000 tấn. Nghề nuôi tiếp tục tăng trưởng liên tục qua các năm và đạt diện tích 765 ha với sản lượng đạt 105 nghìn tấn vào năm 2020 và tập trung chủ yếu tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Trà Vinh (Tran et al., 2020). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng về diện tích, sản lượng thì dịch bệnh cũng xuất hiện thường xuyên hơn khiến các hộ nuôi ngày càng gặp nhiều khó khăn trong qui trình nuôi và gây thiệt hại nghiêm trọng về mặt tài chính. Trong việc nuôi cá lóc còn một số trở ngại như bệnh do ký sinh trùng, vi nấm, vi khuẩn, cá lóc nuôi chậm lớn, bị gù và da rắn (Pham et al., 2012; Nguyen et al., 2020). Để phòng trị bệnh, các hộ nuôi thường sử dụng các loại thuốc kháng sinh và hóa chất, trong đó kháng sinh được sử dụng phổ biến trong xử lý các bệnh do vi khuẩn được ghi nhận bao gồm amoxicillin, oxytetracyline, sulphamethoxazole + trimethoprim, florfenicol (Ngo et al., 2018; Nguyen et al., 2020).
Kháng sinh được ứng dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản để kiểm soát các bệnh nhiễm khuẩn (Ngo et al., 2018; Nguyen et al., 2020; Nguyen et al. 2022). Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách đã gây ra tình trạng tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thuỷ sản, tăng nguy cơ hình thành những chủng vi khuẩn kháng thuốc, thay đổi hệ vi sinh đường ruột và ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị xuất khẩu của các sản phẩm (Tadesse & Tadesse, 2017; Shahid et al., 2021).
Nhìn chung, cho đến nay ngoài các chương trình giám sát dư lượng từ các cơ quan quản lý thì các nghiên cứu về việc sử dụng kháng sinh trên cá nuôi tại ĐBSCL nói chung và trên cá lóc nuôi nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, thiếu phân tích so sánh các mô hình nuôi và thông tin chi tiết về sử dụng kháng sinh. Do đó, việc khảo sát hiện trạng sử dụng kháng sinh trong nuôi cá lóc (Channa striata) ở An Giang và Trà Vinh được thực hiện là rất cần thiết nhằm cung cấp thông tin về thực trạng sử dụng kháng sinh trong nuôi cá lóc tại An Giang và Trà Vinh. Kết quả nghiên cứu là cơ sở hỗ trợ quản lý tốt vấn đề sử dụng kháng sinh cũng như phục vụ cho nghiên cứu giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong nuôi cá lóc, đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro về an toàn thực phẩm.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2023 đến tháng 08/2024 thông qua việc phỏng vấn 103 hộ tại các vùng nuôi tập trung thuộc hai tỉnh An Giang và Trà Vinh. Các hộ được chọn bao gồm ba mô hình nuôi chính: nuôi ao đất, nuôi vèo và nuôi bể. Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 103 hộ nuôi cá lóc tại các vùng nuôi tập trung ở hai tỉnh An Giang và Trà Vinh theo biểu mẫu phỏng vấn được thiết kế. Số hộ phỏng vấn được tính theo công thức Yamane (1967). Số liệu thứ cấp: Các thông tin về tình hình sử dụng thuốc, hóa chất và danh mục các loại thuốc, hóa chất bị cấm sử dụng hoặc hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản được thu thập thông qua báo cáo Cục chất lượng chế biến và phát triển thị trường, Chi cục Thủy sản An Giang và Chi cục Thủy sản – Quản lý chất lượng tỉnh Trà Vinh.
Kết quả khảo sát cho thấy có 8 dấu hiệu bệnh lý được người nuôi mô tả, xuất hiện nhiều bao gồm xuất huyết (97,3% - 100%), gan, thận mủ (87,5% - 100%) và ghẻ lở (63,3% - 92,3%) trong mô hình nuôi ao và vèo. Người nuôi đã sử dụng 14 loại kháng sinh đơn và 1 hợp chất kháng sinh để kiểm soát các dấu hiệu bệnh do vi khuẩn gây ra. Các loại kháng sinh được sử dụng phổ biến là amoxicillin, florfenicol, doxycycline và sulfadiazine + trimethoprim. Các hộ nuôi cá lóc trong ao sử dụng kháng sinh từ 2 đến 6 lần/vụ nuôi, trong khi đó, từ 3 đến 5 lần/vụ đối với các hộ nuôi vèo và từ 2 đến 5 lần/vụ đối với các hộ nuôi bể. Việc tập huấn cho người nuôi về việc sử dụng kháng sinh đúng cách đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng là cần thiết.
Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tập 62, Số 1B (2026) (nthang)