Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở tiềm năng đất đai tại thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang
Nghiên cứu do các tác giả Phan Chí Nguyện, Hà Trọng Tính, Huỳnh Trầm Mộng Duy, Nguyễn Thị Song Bình, Vương Tuấn Huy và Phạm Thanh Vũ - Đại học Cần Thơ thực hiện nhằm xác định tiềm năng đất đai về tự nhiên, kinh tế làm cơ sở đề xuất bố trí sử dụng đất nông nghiệp mang tính bền vững cho thị xã Tịnh Biên.
Thị xã Tịnh Biên là vùng có khí hậu đặc trưng nhiệt đới gió mùa thuộc tỉnh An Giang, là vùng có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa (An Giang Provincial Statistical Office, 2017). Với đặc điểm địa hình bán sơn địa khá phức tạp, vừa có đồi núi vừa có đồng bằng (Nguyen & Nguyen, 2019; Pham et al., 2021), mang sắc thái đặc biệt đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố các loại hình sử dụng đất cũng như các loại cây trồng khác nhau trên địa bàn thị xã. Theo Nguyen & Nguyen (2017) diện tích đất phèn và đất cát tại thị xã Tịnh Biên chiếm khá lớn (trong đó diện tích đất phèn chiếm gần 13% và diện tích đất cát chiếm khoảng 48% diện tích đất tự nhiên), diện tích đất phèn được phân bố tập trung tại các khu vực trũng, thấp trên địa bàn thị xã như tại khu vực tiếp giáp huyện Châu Phú và thành phố Châu Đốc; còn diện tích đất cát được phân bố tập trung chủ yếu tại khu vực chân núi và một phần tại khu vực đồi núi. Qua đó cho thấy điều kiện thổ nhưỡng của thị xã chưa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đối với vùng đất dưới chân núi tập trung phát triển mô hình lúa nương (lúa 1 vụ) chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao (Nguyen & Nguyen, 2019). Bên cạnh đó, tình hình khô hạn hàng năm của thị xã Tịnh Biên thường xuyên xảy ra và diễn biến rất phức tạp vào những năm có thời tiết cực đoan (thời gian khô hạn kéo dài) do đặc điểm địa hình khá cao so với mực nước biển, đồng thời phần lớn địa hình của thị xã là đồi núi và đồng bằng nghiêng, chân núi làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp (Pham et al., 2021). Ngược lại, vào những tháng mùa mưa, các khu vực trũng thấp chưa có hệ thống đê bao thường xuyên bị ngập lũ bởi lượng nước đổ về từ thượng nguồn sông MêKông kết hợp lượng mưa lớn ảnh hưởng đến đời sống và quá trình canh tác nông nghiệp của người dân (Pham et al., 2021). Do vậy, việc xác định khả năng phù hợp đất đai cho các loại cây trồng chủ lực làm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong phát triển nông nghiệp mang tính bền vững tại vùng bán sơn địa là rất cần thiết.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tiềm năng đất đai về tự nhiên, kinh tế làm cơ sở đề xuất bố trí sử dụng đất nông nghiệp mang tính bền vững cho thị xã Tịnh Biên.
Các phương pháp nghiên cứu gồm:
1. Phương pháp thu thập số liệu
− Các số liệu, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất, tình hình sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2021-2024 được thu thập tại Ủy ban nhân dân thị xã Tịnh Biên. Bên cạnh đó, các dữ liệu kinh tế của các loại hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thị xã được thu thập tại Phòng Kinh tế - Hạ tầng về chi phí đầu tư, thu nhập của mô hình canh tác và được tính toán để xác định lợi nhuận (là tổng thu nhập - tổng chi phí) và hiệu quả đồng vốn (là lợi nhuận/tổng chi phí đầu tư).
− Các dữ liệu bản đồ về ngập lũ và khô hạn năm 2024 được thu thập thông qua việc tham vấn sâu ý kiến của 05 cán bộ Phòng Kinh tế - Hạ tầng thị xã Tịnh Biên nhằm khoanh vẽ trên bản đồ giấy về các vùng bị ngập lũ (thời gian ngập và độ sâu ngập), vùng thiếu nước tưới do khô hạn (thời gian khô hạn dẫn đến thiếu nước tưới) và được chuẩn hoá, số hoá dữ liệu trên phần mềm Mapinfo 15.0.
− Dữ liệu bản đồ thổ nhưỡng được kế thừa từ đề tài “Đánh giá khả năng và phân bố độ phì nhiêu đất trên cơ sở bản đồ đất làm cơ sở đánh giá các trở ngại cho canh cây trồng tỉnh An Giang” năm 2018 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang.
2. Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai tự nhiên và kinh tế
Khả năng phù hợp đất đai tự nhiên cho các kiểu sử dụng đất nông nghiệp được xác định thông qua phương pháp đánh giá thích nghi đất đai của The Food and Agriculture Organization [FAO] (1976). Phương pháp được thực hiện với 05 bước cơ bản (Hình 1) bao gồm (bước 1): Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai; (bước 2): Chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đai; (bước 3): Chuyển đổi những đặc tính đất đai thành các chất lượng đất đai; (bước 4): Xác định yêu cầu về đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai và xây dựng bảng phân cấp yếu tố và (bước 5): Đối chiếu và phân hạng khả năng thích nghi đất đai.
3. Phương pháp đề xuất bố trí sử dụng đất nông nghiệp
Căn cứ vào khả năng phù hợp đất đai về tự nhiên, kinh tế cho các loại hình sử dụng đất tại các vùng thích nghi đất đai, việc bố trí sử dụng đất nông nghiệp tại thị xã Tịnh Biên được đề xuất nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai sẳn có của vùng nghiên cứu. Bên cạnh đó, còn xem xét đến hiện trạng sử dụng đất hiện tại nhằm hạn chế sự xáo trộn quá nhiều so với thực trạng. Ngoài ra, việc bố trí cũng cần quan tâm đến mong muốn thay đổi cơ cấu cây trồng của người dân và cán bộ quản lý tại địa phương nhằm phù hợp theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thị xã. Hơn nữa, phương án bố trí sử dụng đất cũng sắp xếp các loại hình sử dụng đất có khả năng chuyển đổi trong tương lai nhằm giúp các nhà quản lý có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện của địa phương đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, hướng đến sử dụng đất đai mang tính bền vững, phù hợp với nghị quyết 120/NQ-CP hướng đến sản xuất nông nghiệp mang tính thuận thiên, phù hợp với điều kiện tự nhiên.
4. Phương pháp bản đồ
Nghiên cứu đã sử dụng phần mềm Mapinfo 15.0 để thực hiện chuẩn hoá, số hoá các bản đồ sau khi được thu thập. Sau đó, tiến hành xây dựng các bản đồ đơn tính, chồng xếp các bản đồ đơn tính để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho thị xã Tịnh Biên. Ngoài ra, các bản đồ chuyên đề cũng được thực hiện bằng công cụ GIS như bản đồ thích nghi đất đai và định hướng bố trí sử dụng đất nông nghiệp bằng phần mềm Mapinfo 15.0
Qua thời gian thực hiện, kết quả nghiên cứu cho thấy có 05 vùng thích nghi đất đai tự nhiên, 08 vùng thích nghi đất đai kinh tế kết hợp tự nhiên được xây dựng cho sáu kiểu sử dụng đất từ 10 đơn vị đất đai. Thông qua đó, ba vùng sản xuất nông nghiệp được đề xuất với các loại hình sử dụng đất được chọn lựa và ưu tiên khi thực hiện triển đổi cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, các giải pháp khắc phục các yếu tố giới hạn đến khả năng thích nghi đất đai về công trình và phi công trình cũng được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và khai thác tài nguyên đất đai mang tính bền vững trong điều kiện ngập lũ, khô hạn và đất nhiễm phèn.
Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 62, Số 1B (2026) (nthang)