Phân tích đánh đổi phát thải khí nhà kính - hiệu quả kinh tế trên mô hình canh tác nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng
Phát thải khí nhà kính (KNK), đặc biệt CO2, CH4 và N2O, đang tăng trên toàn cầu do hoạt động của con người, làm tăng nhiệt tầng đối lưu và biến đổi khí hậu (Shakoor et al., 2021; Montzka et al., 2011). Theo IPCC, KNK được phân thành năm lĩnh vực chính, trong đó AFOLU (nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất) đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát thải toàn cầu (IPCC, 2006; Lamb et al., 2023; Murawska & Goryńska-Goldmann, 2023).
Sự liên hệ giữa nông nghiệp và biến đổi khí hậu thể hiện rõ ở mức độ ảnh hưởng đến năng suất và an ninh lương thực, đặc biệt tại các khu vực nhiệt đới nơi điều kiện thời tiết gắt gao. Tại Việt Nam, ĐBSCL và huyện Sóc Trăng nổi lên như vùng trọng điểm với 84,66% diện tích tự nhiên dùng cho nông nghiệp và vai trò then chốt của nông nghiệp đối với kinh tế địa phương (Mai et al., 2014; Dao et al., 2020; Ministry of Agriculture and Rural Development, 2016). Trong bối cảnh biến đổi môi trường, lựa chọn mô hình canh tác phù hợp và giảm thiểu phát thải KNK đang trở thành mục tiêu dài hạn của nông nghiệp Việt Nam (FAO, 2015; Lambin & Meyfroidt, 2011).

Ảnh minh họa
Nghiên cứu này tập trung ước tính lượng phát thải KNK và phân tích đánh đổi kinh tế trên các mô hình canh tác đất nông nghiệp tại Sóc Trăng. Sử dụng ảnh vệ tinh Sentinel-1 để xác lập cơ cấu mùa vụ và ước lượng hệ số phát thải KNK theo hướng dẫn của IPCC, sau đó phân tích hiệu quả kinh tế dựa trên lượng phát thải. Kết quả cho thấy mô hình lúa ba vụ phát thải cao nhất với 7.566,36 kg CO2eq/ha/năm, còn mô hình lúa một vụ có phát thải thấp nhất là 2.324,99 kg CO2eq/ha/năm. Mức đánh đổi hiệu quả kinh tế trên cùng một đơn vị lợi nhuận cho thấy lúa ba vụ có phát thải cao nhất (83,41 kg CO2eq/triệu đồng), trong khi hành tím có mức đánh đổi thấp nhất (5,75 kg CO2eq/triệu đồng). Nghiên cứu cung cấp thông tin thiết yếu cho quản lý và tối ưu hóa hệ thống canh tác nhằm giảm thiểu KNK tại địa phương.
Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ giữa các mô hình canh tác về phát thải KNK và chi phí lợi nhuận. Trong khi trồng lúa ba vụ mang lại lợi ích kinh tế tương đối cao, nó cũng đi kèm với mức phát thải KNK đáng kể, đặt ra thách thức cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Ngược lại, các hình thức như hành tím dù có mức lợi nhuận thấp hơn nhưng mang lại đánh đổi KNK tối ưu hơn. Điều này gợi ý hướng phát triển bền vững tại Sóc Trăng là khuyến khích lựa chọn mô hình canh tác cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và giảm phát thải KNK, ưu tiên các biện pháp canh tác và lựa chọn loại cây trồng có tiết kiệm KNK, đồng thời tận dụng dữ liệu vệ tinh để theo dõi và điều chỉnh thực hành nông nghiệp theo thời gian thực.
Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 61, Số chuyên đề: Môi trường và Biến đổi khí hậu (2025): 238-249 (dtnkhanh)