SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Bàn luận về nguồn vốn xã hội và vốn xã hội

[24/02/2026 08:29]

Nguồn vốn xã hội và vốn xã hội trong một số nghiên cứu đang được sử dụng thay thế lẫn nhau. Tuy nhiên, về bản chất nguồn vốn xã hội chính là yếu tố hình thành, tạo nên vốn xã hội. Vốn xã hội là nguồn lực vô hình và ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy phát triển bền vững đối với từng cá nhân, tổ chức và cả quốc gia. Vậy, yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển vốn xã hội? Bài viết1 tập trung nhận diện các nguồn vốn xã hội và qua đó xác định hai nguồn vốn xã hội quan trọng nhất của Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Việc hình thành và phát triển vốn xã hội ở Việt Nam không thể tách rời vai trò của từng cá nhân và hệ thống pháp luật - hai yếu tố có tính chất nền tảng và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Vốn xã hội (social capital) trở thành một thuật ngữ thông dụng trong các cuộc tranh luận cũng như trong các nghiên cứu khoa học xã hội. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên trong bài viết “Trung tâm cộng đồng học tập nông thôn” (The rural school community center) của nhà giáo dục Mỹ Lyda Judson Hanifan vào năm 1916. Từ năm 2011 đến nay, số lượng bài viết về vốn xã hội đã có sự “bùng nổ”, từ chưa đến 2.000 bài (năm 2011) lên hơn 8.000 bài (năm 2021) (Carradore, 2022: 9). Nhiều nghiên cứu về vốn xã hội đã phân tích và chỉ ra lợi ích và rủi ro của vốn xã hội ở cấp độ cá nhân, tổ chức (đặc biệt trong doanh nghiệp) và một số ít đề cập ở cấp độ địa phương và quốc gia. Tuy nhiên, mặt tích cực của vốn xã hội luôn được nhìn nhận nhiều, đa chiều hơn trong các nghiên cứu so với mặt hạn chế. Nhiều nghiên cứu khẳng định, vốn xã hội là một nguồn lực quan trọng và ngày càng có vai trò không thể thiếu trong sự phát triển, đặc biệt ở khả năng vừa như một chất keo gắn kết, ổn định xã hội và có khả năng chống chịu trước các biến động, cú sốc lớn. Trong khi vốn xã hội được nghiên cứu khá toàn diện thì nguồn vốn xã hội (sources of social capital) hay nguồn hình thành và phát triển vốn xã hội lại rất ít được xem xét và đưa ra mổ xẻ, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam. Thậm chí, hiện nay, cũng có một số nghiên cứu sử dụng nội hàm “vốn xã hội” và “nguồn vốn xã hội” một cách tương đồng, thay thế nhau. Vậy, thực sự có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này không, và nguồn vốn xã hội là những yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc thúc đẩy, duy trì hay cản trở việc tạo ra vốn xã hội? Ở Việt Nam, nguồn vốn xã hội nào cần được ưu tiên quan tâm để làm giàu vốn xã hội của quốc gia? Trước khi trả lời các câu hỏi nêu trên, bài viết đề cập tới đặc trưng và tính hai mặt của vốn xã hội.

Đặc trưng của vốn xã hội

Bàn về vốn xã hội, đã có một số tác giả đặt nền móng, xây dựng khung lý thuyết cho chủ đề này, đó là: Pierre Bourdieu (1986), James Coleman (1988), Robert Putnam (1995), Nan Lin (1999) và Francis Fukuyama (1999). Mặc dù, mỗi tác giả có cách tiếp cận, quan điểm và cách diễn giải độc lập nhau về vốn xã hội, nhưng đều có thống nhất về nội hàm vốn xã hội trên một số phương diện, đó là: (i) Vốn xã hội gắn liền với mạng lưới xã hội, quan hệ xã hội; (ii) Vốn xã hội là một nguồn lực xã hội; (iii) Vốn xã hội được tạo ra thông qua sự đầu tư vào mối quan hệ xã hội hoặc mạng lưới xã hội và các cá nhân có thể tìm kiếm lợi ích; và (iv) Vốn xã hội là sự tin cậy và quan hệ tương hỗ/có đi có lại.

Bàn về vốn xã hội, hiện vẫn còn có một số tranh luận giữa các nhà nghiên cứu trên một số khía cạnh. Thứ nhất, Putnam (1995) cho rằng vốn xã hội là hàng hoá công, nhưng Fukuyama (1999) lại có quan điểm trái ngược, cho rằng vốn xã hội được sản sinh ra từ các cá nhân và mang lại lợi ích cho các cá nhân. Trong khi đó, Coleman lại có quan điểm tổng hợp, đa chiều hơn, theo đó ông thể hiện quan điểm vốn xã hội vừa là hàng hóa công và vừa là hàng hóa tư, ở đó hành động của cá nhân mang lại lợi ích cho toàn bộ nhóm (Tzanakis, 2013). Đồng tình với quan điểm của Coleman, Claridge (2018) cho rằng vốn xã hội có đặc trưng của hàng hóa tư vì cá nhân đầu tư vào vốn xã hội, có một số mức độ sở hữu và kiểm soát, và có thể nhận được lợi ích như tài sản riêng (Alguezaui và Filieri, 2010) và có đặc trưng hàng hóa công vì vốn xã hội có thể vượt qua khỏi tầm kiểm soát cá nhân và có tác động, đem lại lợi ích cho một nhóm cộng đồng chứ không chỉ cho những người tạo ra vốn xã hội (Kostova và Roth, 2003). Thứ hai, sử dụng thuật ngữ “vốn xã hội’ có thực sự phù hợp, liệu vốn xã hội có thực sự đủ tiêu chuẩn là "vốn" theo nghĩa kinh tế hay không? Một mặt, vốn xã hội có nhiều đặc điểm của vốn như đòi hỏi các nguồn lực (đặc biệt là thời gian) để sản xuất ra và có thể được tích lũy và khấu hao; nhưng vốn xã hội lại thiếu một đặc điểm quan trọng là thị trường để trao đổi vốn xã hội (hay tính “chuyển nhượng được” - nghĩa là quyền sở hữu vốn xã hội có thể được chuyển từ người này sang người khác) (Quibria, 2003; Grootaert và cộng sự, 2004).

Nhìn chung, về tổng thể vốn xã hội không phải là dạng vốn mang tính vật chất (như: đất đai, tài chính, tư liệu sản xuất,...) mà là một loại vốn mang chiều cạnh liên quan tới tinh thần, văn hóa, đạo đức, chuẩn mực xã hội,... Vốn xã hội thường được thể hiện thông qua các mối quan hệ gắn bó giữa con người với con người trong một cộng đồng (có thể ở cấp độ gia đình, dòng tộc, làng xóm, doanh nghiệp, địa phương, quốc gia hay xuyên quốc gia). Dựa trên sự gắn kết chặt chẽ đó, vốn xã hội đã biến thành một lực lượng vật chất nhằm giải quyết các vấn đề của cộng đồng, hướng tới hiện thực hóa những mục tiêu phát triển chung của cộng đồng.

Lợi ích và rủi ro của vốn xã hội

Các nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới đã đề cập tới 02 lợi ích rõ nét của vốn xã hội, đó là: (i) tiếp cận nguồn thông tin rộng và kịp thời thông qua tương tác mạng lưới, từ đó giúp giảm chi phí giao dịch (Hansen, 1999), tăng cơ hội việc làm tốt hơn (Burt, 1992; Mayerson, 1994;....), cơ hội giảm chi phí vay vốn (Hasan và cộng sự, 2017), cơ hội di chuyển đến những nơi mới (Portes và Sensenbrenner, 1993), tăng cường kỹ năng, kiến thức mới cho cá nhân, tổ chức (Powell và Smith-Doerr, 1994; và Podolny và Page, 1998),...; và (ii) tăng cường sự đoàn kết giữa các nhóm, các tổ chức (Ouchi, 1980; Nelson, 1989; Krackhardt và Hanson, 1993;...), từ đó tạo niềm tin, sự tin tưởng trong nhóm, tổ chức, và nhờ đó khuyến khích sự tuân thủ các quy tắc, phong tục địa phương và giảm nhu cầu kiểm soát chính thức (Adler và Kwon, 2002).

Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội đưa ra đánh giá rất tích cực về vai trò của nó đối với khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường ở cả 03 cấp độ (cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia). Vốn xã hội mang lại hiệu quả sinh kế cho hộ gia đình (Thủy, 2020); tạo sinh kế và cải thiện phúc lợi cho hộ gia đình nông thôn (Kim và cộng sự, 2023), giúp nâng cao đời sống của hộ gia đình (Huỳnh và Kim, 2019), giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm (Anh, 2015), giúp doanh nghiệp tăng khả năng ứng phó với những biến đổi từ môi trường kinh doanh và khả năng phục hồi chuỗi cung ứng tích cực (Mai và Đình, 2022), vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến chia sẻ tri thức (hiện và ẩn), từ đó tăng hiệu quả làm việc của nhân viên trong khu vực công ở tỉnh Tiền Giang (Sơn và Trí, 2020), giúp việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tốt (Hồng, 2022) hay giúp bảo tồn giá trị di sản (Linh, 2022).

Bên cạnh lợi ích của vốn xã hội, một số nghiên cứu (như: Gabbay và Leenders, 1999; Leana và Van Buren, 1999; Portes và Landolt, 1996) đã chỉ ra một số rủi ro như: cần sự đầu tư đáng kể vào việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ, và trong một số tình huống nhất định mặc dù chi phí tốn kém nhưng thông tin tiếp cận lại không hiệu quả; hay nghiên cứu của Hansen (1998) cho thấy các nhóm dự án có mối quan hệ chặt chẽ đôi khi mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành nhiệm vụ so với các nhóm có mối quan hệ yếu hơn; hay Gargiulo và Bernassi (1999) chỉ ra rằng tăng sự đoàn kết mạnh mẽ giữa các thành viên trong nhóm có thể khiến các thành viên bị gắn quá mức vào mối quan hệ, làm giảm dòng chảy ý tưởng và có thể dẫn tới chủ nghĩa địa phương và sự trì trệ; hay rủi ro có thể gặp khi có sự sự thống trị của một cá nhân hay một nhóm có thể loại trừ cá nhân hay nhóm yếu thế hơn (phụ thuộc hơn) khiến nỗ lực hợp tác bị lãng phí (Alder và Kwon, 2002). Đồng tình với lập luận về rủi ro của vốn xã hội dẫn đến sự trì trệ, Kern (1998) đưa ra ví dụ về thực trạng hiện tại của ngành công nghiệp Đức. Ông cho rằng có quá nhiều sự tin tưởng giữa các công ty ở Đức với nhau (các công ty quá trung thành với các nhà cung cấp đang hoạt động) nên điều này dẫn tới các công ty chậm tìm kiếm và áp dụng nhiều ý tưởng mới lạ hơn (ibid). Tương tự, Portes (1998) lưu ý rằng vốn xã hội trong các cộng đồng gắn bó chặt chẽ có thể tạo ra các vấn đề đi nhờ xe và cản trở tinh thần kinh doanh. Các chuẩn mực mạnh mẽ trong một cộng đồng có thể quyết định việc chia sẻ nguồn lực giữa các thành viên trong gia đình mở rộng, điều này có thể làm giảm động lực cho hoạt động kinh doanh và do đó làm chậm quá trình tích lũy vốn” (ibid).

Như vậy, rõ ràng vốn xã hội trong thực tế đã có tác động hai mặt tới cả cấp độ từng cá nhân, tổ chức (đặc biệt là doanh nghiệp) và cấp độ rộng hơn là nền kinh tế. Tuy nhiên, mặt tích cực của vốn xã hội luôn được nhìn nhận nhiều hơn trong các nghiên cứu.

Thực tế cho thấy, cá nhân là nguồn vốn xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc (i) khởi tạo và duy trì niềm tin xã hội, (ii) thiết lập và lan tỏa chuẩn mực xã hội, và (iii) thiết lập và duy trì các mối quan hệ. Cụ thể:

(1) Cá nhân luôn đóng vai trò nền tảng trong việc tạo niềm tin hay có thể làm suy giảm niềm tin giữa con người với con người. Bằng việc thể hiện các phẩm chất/đặc trưng của cá nhân như: năng lực, uy tín, có trách nhiệm, trung thực, đồng cảm, tôn trọng, biết lắng nghe, chân thành, hành động nhất quán, chuẩn mực,... từng cá nhân xây dựng được lòng tin với những người xung quanh, từ đó củng cố lòng tin giữa các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, và nhờ đó thúc đẩy các mối quan hệ xã hội tin cậy lẫn nhau. Theo Golubović (2008), cá nhân có mức độ tin cậy cao hơn (xây dựng được lòng tin lớn hơn) sẽ có chi phí giao dịch thấp hơn. Nghiên cứu của Arrow (1972) cũng đề cập “hầu như mọi giao dịch thương mại đều chứa đựng yếu tố tin tưởng... Có thể khẳng định chắc chắn rằng phần lớn sự lạc hậu về kinh tế của thế giới là do thiếu sự tin tưởng lẫn nhau" (Golubović, 2008). Như vậy, niềm tin chính là điều kiện tiền đề để thúc đẩy hợp tác lâu bền, vì vậy, khi mỗi cá nhân xây dựng được niềm tin từ người khác sẽ góp phần tạo dựng được mối quan hệ bền vững, chuyên nghiệp hơn.

(2) Cá nhân không chỉ là ứng xử theo chuẩn mực xã hội mà còn là chủ thể tích cực trong việc thiết lập và lan tỏa chuẩn mực xã hội. Chuẩn mực xã hội là những quy tắc hoặc hành vi ứng xử mà một nhóm hoặc một xã hội chấp nhận và cá nhân tin tưởng và tuân theo qua nhiều thế hệ (De, 2021). Trong khi chuẩn mực xã hội được xem là “cái chung”, là sản phẩm của tập thể, nhưng nó lại bắt nguồn từ những hành vi cụ thể của từng cá nhân. Cá nhân không chỉ lan tỏa chuẩn mực xã hội thông qua việc đóng vai trò là người truyền bá, phổ biến chuẩn mực xã hội, mà còn đóng vai trò hình thành chuẩn mực mới. Thông qua hành động đi tiên phong, cá nhân có thể thách thức chuẩn mực cũ (chẳng hạn: người phụ nữ da đen Rosa Parks từ chối việc nhường chỗ trên xe bus cho một người đàn ông da trắng năm 1955, khơi mào cho cuộc đấu tranh về bình đẳng chủng tộc ở Montgomery) (Hải Thư, 2021) và thậm chí thiết lập chuẩn mực mới. Đặc biệt, trong thời đại số hiện nay, từng hành động riêng lẻ của cá nhân (đặc biệt những người có sức ảnh hưởng lớn) có thể lan truyền, ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành xử của một cộng đồng, và cao hơn là thay đổi xã hội.

(3) Cá nhân không chỉ là người tạo dựng, bắt đầu mối quan hệ mà còn là người quyết định tới chất lượng và độ bền vững của các mối quan hệ trong xã hội. Tùy thuộc vào sự chủ động, vào năng lực giao tiếp, và sự đồng cảm mà mỗi cá nhân sẽ xây dựng, nuôi dưỡng và phát triển các mối quan hệ. Các chủ thể giao tiếp (các cá nhân) đóng vai trò quyết định trong việc khơi mở mối quan hệ thông qua hành vi giao tiếp, ứng xử; và nhờ đó có thêm cơ hội học hỏi, hợp tác và phát triển. Để mối quan hệ được duy trì bền lâu, đòi hỏi các cá nhân phải duy trì sự kết nối liên tục và tạo ra một môi trường giao tiếp tích cực, lành mạnh. Tương tự vai trò của cá nhân, hệ thống pháp luật cũng là nguồn vốn xã hội có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện rõ nét trên ba phương diện, đó là: (i) tạo lòng tin giữa các cá nhân và tổ chức; (ii) định hình và duy trì chuẩn mực hành vi xã hội phù hợp với giá trị xã hội; và (iii) tạo điều kiện cho các mối quan hệ xã hội được hình thành và phát triển bền vững.

(4) Nếu hệ thống pháp luật tốt sẽ cung cấp một khung thể chế ổn định và có thể dự đoán được, nhờ đó các cá nhân và tổ chức có niềm tin vào việc quyền lợi của họ sẽ được bảo vệ và những hành vi trái với quy định pháp luật sẽ bị xử lý một cách công bằng và thỏa đáng. Điều này tạo nên niềm tin cho mọi người trong xã hội. Trong tác phẩm của mình, Fukuyama (1995) cũng đã tuyên bố “khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào “mức độ tin cậy vốn có trong xã hội” (Hohmann và Welte, 2022). Hohmann và Welte (2022) cũng nhấn mạnh rằng môi trường thể chế có mức độ “tin cậy thấp” được cho là hạn chế sự gia nhập thị trường, hạn chế phát triển doanh nghiệp và cạnh tranh tự do, đồng thời khuyến khích tinh thần kinh doanh không hiệu quả, thậm chí tinh thần kinh doanh “ký sinh” (parasitic entrepreneurship)2 1 , trong khi đó môi trường thể chế có mức độ “tin cậy cao” sẽ thúc đẩy sự cạnh tranh và tăng trưởng doanh nghiệp.

(5) Hệ thống pháp luật không chỉ phản ánh các giá trị, chuẩn mực hành vi xã hội mà còn định hình và củng cố chuẩn mực xã hội thông qua việc đặt ra các quy tắc ứng xử (những quy tắc ứng xử phù hợp với xã hội và những quy tắc ứng xử vi phạm chuẩn mực xã hội). Nghiên cứu của Sunstein (1996) đã nhấn mạnh pháp luật có vai trò (là nỗ lực) để hình thành và tác động đến chuẩn mực xã hội và vai trò xã hội. Theo đó, hệ thống pháp luật thường cố gắng quy định vai trò của các chủ thể trong nền kinh tế (vai trò của cha/mẹ, của con cái, của người chồng/vợ, của giới lao động, của giới chủ, của công chức, viên chức,...) thông qua các quy định hành vi phù hợp và vi phạm chuẩn mực xã hội. Theo Sunstein (1996), nhiều vai trò có vẻ “tự nhiên”, bắt nguồn từ các quy ước xã hội có từ trước, nhưng pháp luật cố gắng định hình, cụ thể hóa các vai trò. Chẳng hạn, pháp luật quy định một số quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ; hay quyền của người yếu thế, người khuyết tật,... và đưa ra các mức khen thưởng, xử phạt hay cưỡng chế cho những hành vi vi phạm quy định. Các lựa chọn của cá nhân là chức năng của chuẩn mực xã hội và pháp luật có thể thay đổi các chuẩn mực xã hội, hành vi cá nhân theo hướng tích cực hoặc hạn chế cho cá nhân và xã hội. Chẳng hạn, ở một số cộng đồng khu vực, nền văn hóa, việc kết hôn đa thê, kết hôn cận huyết, tảo hôn, hay phân biệt giới tính, chủng tộc (đánh giá thấp vai trò của người phụ nữ, hay phân biệt người da trắng, da màu), sử dụng lao động trẻ em,... được xã hội chấp nhận, tuy nhiên, pháp luật có thể cản trở việc thực hiện các chuẩn mực này bằng cách đưa ra các quy định cấm, cùng với các chế tài xử phạt.

(6) Hệ thống pháp luật giúp cung cấp một cơ sở hạ tầng có trật tự và tránh sự không chắc chắn cho các cá nhân trong các mối quan hệ của họ. Kurowski và Szymaniec (2020) đã nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong việc thiết kế chính sách, và các chính sách cần tạo điều kiện để cải thiện sự hợp tác và hiểu biết giữa các nhóm xã hội có lợi ích chồng chéo khác nhau. Các chính sách cần kích thích các sáng kiến xã hội nhằm khai thác các nguồn lực chưa sử dụng và cải thiện phúc lợi xã hội. Các tác giả cũng cho rằng các quy định pháp lý không đầy đủ có thể làm giảm nguồn lực và chất lượng vốn xã hội, và ngược lại, các quy định được cân nhắc kỹ lưỡng có thể hỗ trợ vốn xã hội. Bên cạnh đó, nếu quy định pháp lý quá chi tiết và ngụy biện cũng có thể làm cho mối quan hệ xã hội trở nên phức tạp, làm giảm nguồn lực và chất lượng vốn xã hội. Ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, hệ thống pháp luật (như: Luật Hôn nhân, Luật Lao động, Luật Dân sự,...) chính là nền tảng điều chỉnh các mối tương tác giữa các cá nhân, các mối quan hệ xã hội và giúp hình thành, phát triển mạng lưới xã hội.

 Như vậy, hệ thống pháp luật được xây dựng và thực thi tốt sẽ cung cấp một môi trường xã hội ổn định, tạo dựng và duy trì lòng tin, các mối quan hệ xã hội, cũng như các chuẩn mực hành vi xã hội phù hợp. Gần đây, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới cũng đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 “Việt Nam có hệ thống pháp luật … mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội” và đến năm 2045 “Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao,... và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”.

Trong tiến trình bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam, từng cá nhân và hệ thống pháp luật đóng vai trò then chốt trong việc nuôi dưỡng và phát triển vốn xã hội. Mỗi cá nhân với ý thức trách nhiệm, tinh thần yêu nước và hành động tích cực vì cộng đồng chính là hạt nhân tạo nên niềm tin và sự đoàn kết toàn dân tộc. Sự chủ động tham gia vào các hoạt động cộng đồng, tôn trọng và thực thi pháp luật, cùng khả năng phản biện, giám sát và xây dựng chính sách chính của từng cá nhân là biểu hiện cụ thể của việc làm giàu vốn xã hội. Trong khi đó, hệ thống pháp luật với vai trò định hướng, điều chỉnh hành vi, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và bảo vệ công lý, công bằng xã hội là tiền đề quan trọng để bảo đảm môi trường thể chế minh bạch, xây dựng niềm tin xã hội, từ đó bảo vệ và phát huy giá trị của vốn xã hội. Việc kết hợp hài hòa giữa vai trò của cá nhân và hệ thống pháp luật sẽ góp phần tạo lập một xã hội ổn định, nhân văn và phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

tapchikhxh.vass.gov.vn (tnttrang)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ