Tri thức hóa nông dân Việt Nam hiện nay: thách thức và giải pháp
Tri thức hóa nông dân là quá trình trang bị cho người nông dân kiến thức và kỹ năng cần thiết để hiểu và áp dụng các phương pháp sản xuất hiện đại. Đây là một quá trình liên tục, bao gồm nhiều hoạt động: giáo dục, đào tạo; truyền đạt thông tin, tri thức liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp; tư vấn, hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm; cung cấp và chuyển giao các kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới,… Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng quá trình tri thức hóa nông dân Việt Nam trong thời gian qua còn nhiều hạn chế và trong tương lai vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Do vậy, để quá trình tri thức hóa nông dân đạt hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp hiện đại cần một hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ với sự vào cuộc của lãnh đạo các cấp, bộ, ngành, các cơ sở giáo dục đào tạo, doanh nghiệp và sự chủ động, tích cực, tự giác của chính bản thân người nông dân.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn giữ vị trí chiến lược trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Do vậy, vấn đề tri thức hóa nông dân nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, trình độ học vấn và năng lực tiếp cận thông tin, ứng dụng, khoa học, công nghệ cho người nông dân là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Quá trình này không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp mà còn giúp người nông dân tham gia tích cực vào chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam “phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, quy mô sản xuất hàng hoá nông sản ngày càng lớn, bảo đảm môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2022). Tuy nhiên trên thực tế, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì quá trình tri thức hóa nông dân vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích thực trạng, chỉ ra những khó khăn, thách thức của quá trình này, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình tri thức hóa nông dân ở Việt Nam hiện nay.
Bài viết sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tri thức hóa nông dân. Để phân tích thực trạng và những thách thức đang đặt ra trong quá trình tri thức hóa nông dân, bài viết sử dụng số liệu từ các nguồn tài liệu thứ cấp như: Báo cáo của Ban cán sự Đảng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, số liệu thống kê từ các công trình khoa học đã công bố, đặc biệt là số liệu Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê qua các thời kỳ. Các phương pháp phân tích nội dung và phân tích so sánh được áp dụng để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình tri thức hóa nông dân trong thời gian tới.
Thời gian qua, nhiều Nghị quyết của Trung ương Đảng và Chính phủ đã được ban hành hướng tới mục tiêu tri thức hóa nông dân. Trong Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Đảng ta xác định: “xây dựng nông dân Việt Nam phát triển toàn diện…; có trình độ, học vấn và năng lực tổ chức sản xuất tiên tiến...”. Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 20/12/2023 của Bộ Chính trị về đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới đặt mục tiêu: “động viên, cổ vũ nông dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ, tích cực tham gia phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 11/5/2024 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 69/NQ-CP xác định nhiệm vụ cụ thể của Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Sự chỉ đạo và triển khai kịp thời của Đảng và Chính phủ đối với nhiệm vụ tri thức hóa nông dân đã giúp quá trình này đạt được nhiều kết quả quan trọng trong thực tiễn.
Thứ nhất, tỷ lệ lao động nông nghiệp đã qua đào tạo tăng đều qua các năm; mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề phủ rộng khắp cả nước, với nhiều hình thức, cấp bậc khác nhau. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn tăng từ 13% năm 2015 lên 16,3% năm 2020 và sơ bộ năm 2023 là 18,4% (Tổng cục Thống kê, 2024: 181). Trong đó, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đã qua đào tạo tăng từ 4% năm 2019 lên 4,5% năm 2023 (Tổng cục Thống kê, 2024: 185). Trong 11 năm thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2010-2020 (theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ), cả nước có gần 10 triệu lao động nông thôn được học nghề, trong đó có gần 4,6 triệu người được hỗ trợ đào tạo nghề (trong số này có 1,84 triệu lao động nông thôn học nghề nông nghiệp, chiếm 40,2%) (Trịnh Xuân Việt, 2023). Ngoài ra, hàng năm Hội nông dân còn trực tiếp, phối hợp đào tạo nghề cho trên 110 nghìn nông dân, trên 80% trong số này có việc làm, thu nhập ổn định (Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, 2023: 8). Mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề được phủ rộng khắp cả nước, với nhiều hình thức và cấp bậc khác nhau, đáp ứng nhu cầu đa dạng của lao động nông thôn. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay trên cả nước có khoảng 50 cơ sở đào tạo đại học có đào tạo các ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản và thủy lợi; trong đó Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn có 4 cơ sở đào tạo đại học và 28 trường cao đẳng. Tính đến năm 2022, các cơ sở đào tạo của bộ đã mở được 38 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ; 39 ngành đào tạo thạc sĩ và 97 ngành đào tạo trình độ đại học, 112 ngành đào tạo cao đẳng và 122 ngành trung cấp (Minh An, 2023).
Thứ hai, công tác tập huấn, chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đã được Hội Nông dân các cấp và chính quyền sở tại triển khai sâu rộng đến người nông dân. Trong nhiệm kỳ 2018-2023, Hội nông dân đã phối hợp tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp cho trên 11,8 triệu lượt hội viên, vượt 39,24% so với chỉ tiêu; hỗ trợ, hướng dẫn nông dân xây dựng thành công 12.927 mô hình điểm, tạo điều kiện cho hội viên, nông dân tham quan học tập để nhân rộng, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp (Ban chấp hành Trung ương Hội nông dân Việt Nam, 2023: 8). Bên cạnh đó, Hội còn xây dựng và duy trì hàng trăm “Câu lạc bộ khoa học kỹ thuật nhà nông”, tổ chức cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông” để lựa chọn các giải pháp sáng tạo đưa vào ứng dụng. Tích cực tổ chức các buổi tập huấn, hướng dẫn, vận động hội viên sử dụng và truy cập mạng Internet, các trang mạng xã hội để khai thác thông tin về thị trường, giá cả, cập nhật quy trình sản xuất mới tiên tiến phục vụ sản xuất, kinh doanh; đến nay có trên 7,3 triệu hội viên truy cập Internet (Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, 2023: 8). Ngoài ra, các ngành chuyên môn ở địa phương cũng đã thiết kế nhiều nội dung tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, kiến thức phù hợp theo từng đối tượng nông dân, vùng miền, đặc tính, ngành nghề nhằm chọn ra những người nông dân giỏi và chuyên về một lĩnh vực nào đó để tập trung đào tạo. Các chương trình trao đổi, hợp tác quốc tế, các dự án cũng tập trung vào việc phát huy vai trò của người nông dân theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường. Thứ ba, nhiều nông dân đã có khả năng ứng dụng ngày càng rộng rãi các công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp. Ở một số địa phương như: Đồng Tháp, Bình Phước, Hà Nội… nhiều nông dân đã ứng dụng công nghệ số, nắm bắt thông tin thị trường, hay những kỹ năng phát triển bền vững để trở thành những “doanh nông” (doanh nhân ở nông thôn). Ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, việc áp dụng hệ thống tưới tiêu tự động, sử dụng máy bay không người lái để phun thuốc bảo vệ thực vật, hay kết nối với các sàn thương mại điện tử để tiêu thụ sản phẩm không còn là điều xa lạ. Ngoài ra, công nghệ sinh học cũng được nông dân ứng dụng rộng rãi trong việc lai tạo giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ở nhiều trang trại chăn nuôi, người nông dân đã từng bước áp dụng hệ thống quản lý thông minh, sử dụng cảm biến để theo dõi sức khỏe vật nuôi, điều chỉnh điều kiện môi trường. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình tri thức hóa nông dân ở Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế, cản trở sự phát triển bền vững của nông nghiệp và nông thôn. Một là, trình độ của nông dân Việt Nam còn thấp, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo thống kê của Bộ nông nghiệp và Nông thôn đến năm 2020, Việt Nam mới chỉ có 24,6% lao động nông thôn đã qua đào tạo, nhưng đa số là đào tạo ngắn hạn, trong số đó mới có 4,6% được cấp văn bằng chứng chỉ - đây là tỷ lệ thấp nhất trong các ngành kinh tế ở Việt Nam (Ban cán sự Đảng Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn, 2023). Còn đến trên 70% số lao động nông nghiệp chưa qua bất kỳ một khóa khóa đào tạo chuyên môn nào (Trần Đức Viên, 2023). Năng suất lao động trong ngành nông nghiệp Việt Nam đang thuộc nhóm thấp nhất châu Á. Năm 2022, năng suất lao động nông nghiệp chỉ đạt 81,1 triệu đồng/người/năm, bằng 43,1% năng suất lao động toàn xã hội (Tổng cục Thống kê, 2023: 190). So với các nước trên thế giới thì “Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam bằng 40% của Thái Lan, 30% của Trung Quốc và 10% của Malaysia” (Linh Linh, 2024). Hai là, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn nhiều bất cập. Mặc dù việc tri thức hóa nông dân đã được đề cập đến trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tuy nhiên đến nay quá trình triển khai ở cấp địa phương vẫn còn nhiều khác biệt: Có địa phương thực hiện nhanh chóng, nhưng cũng có nơi chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch. Ở nhiều bộ, ngành và địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống; hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn không đồng đều giữa các vùng trong cả nước (Linh Cao, 2020). Thời gian của các lớp đào tạo nghề thường là ngắn hạn nên học viên mới nắm được sơ bộ cách sử dụng công cụ và kiến thức cơ bản, chưa đủ tư duy và kĩ năng để xin việc hoặc tự tạo việc làm riêng. Thời gian học ngắn, ngành nghề không phù hợp nhu cầu, học viên không có điều kiện thực hành nên nhiều lao động không tìm được việc làm sau đào tạo. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, phương pháp đào tạo chủ yếu là tập trung ở trên lớp. Ngoài ra, độ tuổi, trình độ của học viên không đồng đều nên việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng còn hạn chế. Kết quả triển khai Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 cũng cho thấy một số tồn tại như: hiệu quả đào tạo không đồng đều giữa các vùng, chưa có sự phối hợp tốt trong chính sách hỗ trợ đào tạo nghề giữa Trung ương với địa phương. Điều này dẫn đến bố trí kinh phí gặp khó khăn. Nhiều nơi bố trí rất ít so với nhu cầu để thực hiện kế hoạch, mục tiêu được phê duyệt. Bên cạnh đó, nhiều lao động nông thôn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của đào tạo nghề; đối tượng lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm còn rất hạn chế nên việc phát huy hiệu quả học nghề chưa cao.
Ba là, việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế. Kinh phí dành cho hoạt động khoa học, công nghệ, trong đó có ứng dụng công nghệ, tiến bộ kỹ thuật tại các địa phương rất hạn chế; chưa thu hút hiệu quả nguồn lực ngoài ngân sách, nhất là đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông sản chủ lực. Công nghệ chế biến nông sản ở Việt Nam hiện nay mới ở trình độ trung bình so với thế giới, hệ số đổi mới thiết bị chỉ ở mức 7%/năm; đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn; chưa có bộ cơ sở dữ liệu lớn và chính xác để phân tích và cung cấp thông tin về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, vật nuôi, cây trồng, thị trường… Đa phần sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam là dưới dạng thô, chưa qua chế biến (chiếm 70-80% kim ngạch xuất khẩu), tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu dựa trên cạnh tranh về giá, ở phân khúc chất lượng thấp (Kate Trần, 2024).
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình tri thức hóa nông dân
Thứ nhất, cần xây dựng một chương trình đào tạo toàn diện cho nông dân. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan để xây dựng một chương trình đào tạo toàn diện, nhằm nâng cao năng lực cho nông dân. Chương trình này cần bao gồm các khóa học về kỹ năng sản xuất, quản lý kinh tế nông nghiệp, và ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất.
Thứ hai, tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Giải pháp này cần có sự vào cuộc của các bộ, ban, ngành từ Trung ương tới địa phương.
Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại cho nông dân. Để “khơi nguồn tri thức Việt vì khát vọng nông nghiệp Việt” thì việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành khâu đột phá. Bên cạnh việc tiếp thu và ứng dụng có chọn lọc các kỹ thuật, mô hình sản xuất tiên tiến trên thế giới, giới khoa học Việt Nam cần tập trung nghiên cứu, giải quyết các vấn đề cấp thiết, bức xúc trong ngành nông nghiệp; sáng tạo, phát minh các loại giống cây trồng, vật nuôi, những mô hình sản xuất, canh tác phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu của Việt Nam để tạo ra sự đột phá về năng suất, chất lượng, đáp ứng tốt sự biến đổi nhu cầu của thị trường cũng như sự biến đổi của khí hậu gắn với bảo vệ môi trường.
Thứ tư, đổi mới tư duy và nâng cao ý thức của người nông dân. Ngành nông nghiệp đã, đang và sẽ phải tiếp cận tư duy mới trong thời đại kinh tế tri thức, do đó, nông dân - chủ thể của nền nông nghiệp mới cũng phải đổi mới tư duy, sẵn sàng tiếp cận với cái mới, thay đổi cách nghĩ, cách làm quen thuộc. Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, sự biến đổi của thời tiết và xu hướng tiêu dùng trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi người nông dân phải không ngừng học tập, sáng tạo, tích lũy tri thức để ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Khi người nông dân nắm vững được kiến thức sản xuất thì trồng trọt, chăn nuôi mới thành công, hạn chế được rủi ro, thất bại. Kinh nghiệm của bản thân là có giới hạn, nhưng tri thức, sự tìm tòi khám phá, sáng tạo là vô hạn. Nông nghiệp chỉ thay đổi khi nông dân thay đổi. Do vậy mỗi người nông dân Việt Nam hiện nay cần có suy nghĩ tích cực, ý thức được vai trò, trọng trách của mình, không ngừng học tập trau dồi, từng bước nâng cao trình độ để trở thành những người nông dân có tri thức.
Tri thức hóa nông dân là đòi hỏi tất yếu, khách quan để chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp nhằm xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững. Trong thời gian qua, quá trình tri thức hóa nông dân ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định. Tỷ lệ lao động nông nghiệp đã qua đào tạo tăng đều qua các năm; mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề phủ rộng khắp cả nước, với nhiều hình thức, cấp bậc khác nhau; công tác tập huấn, chuyển giao khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp được triển khai sâu rộng đến người nông dân thúc đẩy quá trình ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, quá trình tri thức hóa nông dân ở Việt Nam hiện nay vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: lực lượng lao động nông thôn có xu hướng suy giảm và già hóa; trình độ của lao động nông nghiệp còn thấp, thiếu nghiêm trọng lực lượng lao động có trình độ cao trong khi tỷ lệ người theo học các ngành nông nghiệp đang có xu hướng giảm, ngoài ra hệ thống giáo dục, dạy nghề còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình tri thức hóa nông dân. Để khắc phục khó khăn, vượt qua các thách thức này, cần có các giải pháp đồng bộ với sự vào cuộc của lãnh đạo các cấp, bộ, ngành, các cơ sở giáo dục đào tạo, doanh nghiệp và sự chủ động, tích cực, tự giác của chính bản thân người nông dân. Quá trình này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông nghiệp Việt Nam trong tương lai.
tapchikhxh.vass.gov.vn - Số 12/2025 (tnttrang)