SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Thực trạng phụ huynh hóa ở trẻ vị thành niên trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

[24/02/2026 14:17]

Bài viết này chỉ ra thực trạng phụ huynh hóa trên 270 trẻ vị thành niên trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 15, 16 tuổi. Trẻ tham gia trả lời bằng phiếu hỏi, với Bảng kiểm Phụ huynh hóa và các câu hỏi nhân khẩu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, Trẻ trải qua Phụ huynh hóa trong vai trò làm cha mẹ và trong vai trò chăm sóc anh chị em ở mức trung bình và nhận thức về lợi ích Phụ huynh hóa ở mức khá. Có sự khác biệt về mức độ Phụ huynh hóa giữa các nhóm trẻ theo nhóm dân tộc, theo số lượng anh chị em, và theo trình độ học vấn của cha và mẹ. Những phát hiện này gợi mở những hỗ trợ tâm lý phù hợp cho trẻ em khi trải qua Phụ huynh hóa.

Thuật ngữ “phụ huynh hóa” (parentification) lần đầu tiên được chính thức nghiên cứu chuyên sâu bởi các tác giả Boszormenyi-Nagy và Spark (1973). Nhiều nghiên cứu chỉ ra, thực trạng phụ huynh hóa ở trẻ em thường xảy ra trong các gia đình mà cha mẹ khó khăn về kinh tế, có vị thế kinh tế - xã hội thấp, hoặc cha mẹ đối mặt với khủng hoảng kinh tế, cha mẹ bị bệnh tật về thể chất hoặc bệnh về sức khỏe tâm thần (Hooper, 2007; Schier và cộng sự, 2014; Chen & Panebianco, 2020). Theo đó, khái niệm phụ huynh hóa được hiểu là sự đảo ngược vai trò giữa cha mẹ và trẻ em trong gia đình: trẻ phải đảm nhận những trách nhiệm của cha mẹ như giặt giũ, nấu ăn, chăm sóc em nhỏ (phụ huynh hóa về công cụ - instrumental parentification) và trẻ em trong vai trò là người hỗ trợ cha mẹ về tâm lý (phụ huynh hóa về cảm xúc - emotional parentification) (Byng-Hall, 2002 & 2008; Schier và cộng sự, 2014), những nhiệm vụ này được cho là vượt quá khả năng về thể chất và tâm lý của trẻ.

Nhìn chung, hiện tượng phụ huynh hóa thường xảy ra với trẻ ở độ tuổi đi học và có thể kéo dài suốt cuộc đời (Macfie và cộng sự, 2005). Quá trình này thường được nhìn nhận là tích cực khi trẻ em thực hiện công việc nhà hoặc hỗ trợ tinh thần cho cha mẹ, và cũng được đánh giá là lành mạnh cho trẻ em, giúp trẻ nhận ra tiềm năng của bản thân khi thực hiện một số công việc trong vai trò của người lớn (Boszormenyi-Nagy & Spark, 1973). Do đó, trẻ giúp đỡ việc nhà cho cha mẹ hoặc chăm sóc các thành viên trong gia đình là những cách phổ biến mà trẻ em học cách đảm nhận vai trò của người lớn (Wei và cộng sự, 2020). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp trẻ em phải gánh các trách nhiệm gia đình và trở nên quá áp lực, hoặc khi trẻ cảm thấy bắt buộc phải đảm nhận vị trí của người lớn để duy trì sự cân bằng trong hệ thống gia đình, thì việc trải qua phụ huynh hóa có thể gây ra những hậu quả tâm lý ở trẻ em (Hooper, 2007). Vì phải tập trung vào trách nhiệm gia đình, trẻ em bị phụ huynh hóa thường có ít thời gian hơn cho việc học tập, vui chơi, hoặc phát triển các kỹ năng cá nhân (Hooper và cộng sự, 2011).

Qua nhiều nghiên cứu khác nhau, các tác giả chỉ ra rằng, quá trình phụ huynh hóa xảy ra càng sớm trong cuộc đời của một đứa trẻ thì hậu quả càng nghiêm trọng đối với trẻ em (ví dụ: bất lợi, tổn thương hoặc lâu dài, trẻ em bị đánh mất tuổi thơ…) (Jurkovic, 1997; Schier và cộng sự, 2014). Trên thực tế, trẻ em trải qua phụ huynh hóa thường được mô tả là trẻ vị thành niên trưởng thành vì bề ngoài những đứa trẻ này có vẻ là người có năng lực, có tổ chức, cứng rắn và tháo vát (Chee và cộng sự, 2014; Garber, 2011). Những người trẻ trưởng thành sớm thường trải qua mức độ căng thẳng và căng thẳng tâm lý cao hơn khi họ phải vật lộn để đương đầu với gánh nặng trách nhiệm gia đình (Foster & Hunsley, 2008). Bất kể biểu hiện trưởng thành là gì, trẻ em và thanh thiếu niên bị phụ huynh hóa cần được xác định và hỗ trợ vì trẻ có nguy cơ gặp khó khăn suốt đời.

Tại Việt Nam, ở những vùng có điều kiện khó khăn, trẻ em sống trong gia đình phải trải qua nhiều thiếu thốn về vật chất, thiếu sự chăm sóc của cha mẹ và chất lượng cuộc sống không được đảm bảo. Trẻ em trải qua tình trạng phụ huynh hóa từ sớm phải đảm nhận nhiều vai trò của cha mẹ trong gia đình. Ở góc độ tích cực, văn hóa truyền thống của Việt Nam nhấn mạnh đến lòng hiếu thảo và trách nhiệm của trẻ em khi giúp đỡ cha mẹ làm các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, ở góc độ khác, với những trẻ phải đảm nhận các việc quá sức và trong thời gian dài, chính điều này lại ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ và bị mất đi cơ hội phát triển tương lai. Đã có một số nghiên cứu của các tác giả trong nước chỉ ra các vấn đề về tâm lý của trẻ em trong những hoàn cảnh khó khăn như cha mẹ đi làm ăn xa, trẻ em trong gia đình nghèo đói sống ở những vùng trải qua biến đổi khí hậu (Trần Thị Minh Thi, 2015; Nguyễn Văn Lượt, 2017; Nguyễn Tuấn Anh, 2021; Trương Quang Lâm và cộng sự, 2022). Kết quả từ các nghiên cứu đã chỉ ra, những trẻ em này gặp nhiều khó khăn tâm lý như: lòng tự trọng thấp hơn, cảm nhận hạnh phúc chủ quan của trẻ thấp hơn, có nhiều cảm xúc tiêu cực như cảm thấy lo lắng, sợ hãi và bất an… Mặc dù vậy, các nghiên cứu chính thức về thực trạng phụ huynh hóa ở trẻ em vẫn còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này tiến hành khảo sát trên trẻ em lứa tuổi vị thành niên sống tại tỉnh Bắc Kạn, nhằm mục đích chỉ ra thực trạng phụ huynh hóa ở trẻ, so sánh điểm tương đồng và khác biệt về mức độ phụ huynh hóa giữa các nhóm trẻ. Từ đó kết quả của nghiên cứu gợi mở những nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.

Thứ nhất, trong nghiên cứu của chúng tôi, hai khía cạnh phụ huynh hóa trong vai trò làm cha mẹ và trong vai trò chăm sóc anh chị có điểm trung bình thấp hơn khía cạnh nhận thức của trẻ về lợi ích của phụ huynh hóa. Ngược lại, trong một nghiên cứu cùng sử dụng thang đo trên nhóm trẻ vị thành niên ở Ba Lan (Borchet và cộng sự, 2016) cho thấy, điểm trung bình của khía cạnh nhận thức về lợi ích của phụ huynh hóa lại thấp hơn. Kết quả này có thể được lý giải bởi sự khác biệt về văn hóa và vị thế kinh tế xã hội. Dưới góc độ văn hóa Việt Nam, việc trẻ em tham gia vào các công việc giúp đỡ cha mẹ, chăm sóc anh chị em được cho là quan niệm truyền thống về vai trò và trách nhiệm của trẻ em trong gia đình. Tuy nhiên, hai khía cạnh phụ huynh hóa trong nghiên cứu của chúng tôi có điểm trung bình cao hơn, có thể được lý giải bởi các nghiên cứu trước đã chỉ ra, điều kiện và chất lượng cuộc sống của gia đình thấp có thể khiến trẻ em phải trải qua phụ huynh hóa từ sớm, điều kiện gia đình khó khăn khiến trẻ phải làm nhiều việc, và đánh đổi bằng việc học hành (Burton, 2007, Borchet và cộng sự, 2021). Khách thể được khảo sát chiếm tỷ lệ lớn là học sinh dân tộc thiểu số như Tày (42,6%), Mông (22,2%), Dao (11,2%)… và địa bàn sinh sống là miền núi cao, giao thông khó khăn… là những trở ngại không nhỏ khiến cho việc tiếp cận giáo dục và y tế của người dân gặp hạn chế. Bên cạnh đó, điều kiện cuộc sống của gia đình các em còn nhiều khó khăn, vì vậy, trẻ em sớm phải tham gia vào làm các công việc để giúp đỡ cha mẹ. Vì vậy, đây cũng là lý do mà học sinh dân tộc Mông trải qua mức độ phụ huynh hóa cao hơn các nhóm học sinh khác.

Thứ hai, số lượng anh chị em trong gia đình có thể ảnh hưởng đến sự phân chia trách nhiệm và vai trò của từng trẻ trong gia đình. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra, mức độ phụ huynh hóa ở khía cạnh chăm sóc anh chị em cao hơn ở những trẻ có 2 và 3 anh chị em trở lên. Ở khía cạnh tích cực, áp lực phụ huynh hóa có thể được phân chia đồng đều giữa các anh chị em, điều này có thể giảm mức độ phụ huynh hóa ở từng trẻ, đồng thời có thể làm tăng sự phối hợp, san sẻ giữa anh chị em trong gia đình. Bên cạnh đó, các nghiên cứu đi trước chỉ ra, trẻ thực hiện trách nhiệm chăm sóc anh chị em ruột được coi là chuẩn mực, là một đóng góp quan trọng cho sự bền vững của gia đình và là sự chuẩn bị cần thiết cho cuộc sống trưởng thành trong tương lai của trẻ (Valenzuela, 1999). Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ em trong các gia đình đông con thường có nguy cơ trải qua mức độ phụ huynh hóa cao hơn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể được lý giải bởi, trong các gia đình có nhiều anh chị em, cha mẹ thường gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý và đáp ứng tất cả các nhu cầu của con cái cùng một lúc, từ chăm sóc đến giáo dục. Do đó, trẻ là anh chị lớn thường được giao nhiệm vụ chăm sóc các em nhỏ hơn. Điều này dẫn đến việc những trẻ lớn phải thay cha mẹ chăm sóc em, quản lý công việc nhà, hoặc đảm nhận trách nhiệm giáo dục (Jurkovic, 1997). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu trước của Burton (2007) chỉ ra rằng phụ huynh hóa trong gia đình đông con thường gắn liền với yếu tố kinh tế, điều này không chỉ ảnh hưởng đến tuổi thơ của trẻ mà còn làm giảm cơ hội học tập và phát triển cá nhân của chúng.

Thứ ba, kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra trình độ học vấn của cha và mẹ có thể giải thích sự khác biệt về mức độ phụ huynh hóa ở trẻ em. Cụ thể, khi cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn thì trẻ có xu hướng trải qua phụ huynh hóa ở mức độ thấp hơn, ngược lại, những cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn thì trẻ có mức độ phụ huynh hóa cao hơn. Các nghiên cứu trước đã chỉ ra, trình độ học vấn của cha mẹ càng cao có mối quan hệ tích cực với gia tăng khả năng làm cha mẹ và chất lượng hôn nhân (Oreopoulos và Salvanes, 2011), cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn sẽ thúc đẩy sức khỏe tâm lý của thanh thiếu niên thông qua các phong cách giáo dục con tích cực và phù hợp hơn, điều này có lợi đối với sức khỏe tâm thần ở trẻ (Carr và Pike, 2012). Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể được giải thích bởi khi cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn thì có cơ hội việc làm tốt hơn, theo đó, khả năng thu nhập cũng cao và ổn định hơn so với nhóm cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn. Đồng thời, những người có học vấn cao hơn thì cũng có các mối quan hệ xã hội tốt hơn để có thể hỗ trợ khi cần thiết. Trong khi đó, nghiên cứu này có tới 33.3% cha mẹ có học vấn tiểu học và THCS, và 38.9% cha mẹ có trình độ học vấn trung học phổ thông (THPT), do đó, cơ hội việc làm của nhóm cha mẹ này sẽ hạn chế hơn, tính chất công việc cũng sẽ bị động, nên trẻ phải thay cha mẹ gánh vác các công việc gia đình nhiều hơn. Bên cạnh đó, thời gian dành cho con cái cũng hạn chế hơn, nên trẻ ít nhận được sự chia sẻ cả về công việc và tâm lý từ cha mẹ.

Kết quả nghiên cứu bước đầu tìm hiểu thực trạng phụ huynh hóa ở trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa các nhóm trẻ về mức độ phụ huynh hóa. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, với trẻ em ở vùng kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, việc trải qua phụ huynh hóa là điều không tránh khỏi, tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng đến tuổi thơ và sự phát triển tâm lý của trẻ. Do đó, nhà trường cần hướng dẫn trẻ các kỹ năng về tự chăm sóc cũng như kỹ năng nhận diện và biểu đạt cảm xúc giúp, giúp các em vượt qua được các cảm xúc tiêu cực khi đảm nhận vai trò chăm sóc người khác. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của phòng tâm lý học đường tại các trường học. Khi cha mẹ không thể đáp ứng vai trò cảm xúc đầy đủ, việc trẻ em được tiếp cận với những người lớn đáng tin cậy khác như thầy cô, chuyên viên tâm lý học đường… giúp trẻ có điểm tựa an toàn để phát triển. Từ kết quả thu được cũng gợi mở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo, đó là cần chỉ ra mối quan hệ giữa mức độ phụ huynh hóa ở trẻ em và các vấn đề sức khỏe tâm thần, cảm nhận hạnh phúc ở trẻ... như các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra. Đồng thời, nghiên cứu cần được thực hiện ở nhiều địa bàn trên cả nước để chỉ ra bức tranh chung về thực trạng phụ huynh hóa ở trẻ em Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

tapchikhxh.vass.gov.vn - Số 12/2025 (tnttrang)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ