SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Người A Rem ở Quảng Bình: từ cuộc sống hang đá đến định cư làng bản, ổn định đời sống sinh kế, phát huy giá trị văn hóa trong đời sống đương đại

[25/02/2026 10:46]

Bài viết giới thiệu về người A Rem, một tộc người thiểu số rất ít người ở miền núi Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) và hành trình chuyển đổi mang tính bước ngoặt từ cuộc sống nguyên sơ trong hang đá đến định cư ổn định tại các làng bản. Bài viết tập trung phân tích những chuyển biến về điều kiện sống, phương thức sinh kế và sự thích nghi xã hội của người A Rem gắn liền với quá trình ổn định đời sống định cư, giao lưu, hòa nhập với các cộng đồng dân cư khác. Đồng thời, bài viết cũng nhấn mạnh nỗ lực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người A Rem: như ngôn ngữ, lễ nghi, tín ngưỡng và tri thức bản địa, trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao thoa văn hóa. Qua đó, bài viết khẳng định tầm quan trọng của chính sách dân tộc, sự hỗ trợ của nhà nước và vai trò của cộng đồng đã giúp cho đồng bào A Rem thay đổi đời sống, phát triển sinh kế và giữ gìn bản sắc văn hóa trong đời sống đương đại.

Vào những năm cuối thập niên 50 (thế kỷ XX), một nhóm người dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu trong các hang đá ở miền Tây Quảng Bình được “phát hiện” và biết đến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng với đặc điểm là sinh sống hoang dã trong các hang động, hoàn toàn tự cung tự cấp và biệt lập với xã hội. Nhóm người này được biết đến với tên tự gọi là A Rem, là nhóm địa phương của dân tộc Chứt. Người Chứt là tộc người thiểu số xuất hiện từ khá sớm, có lịch sử cư trú hàng trăm năm ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Bình. Trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã nhắc đến dân tộc Chứt như: “Người Sách các nguồn An Đại, An Náu, Cẩm Lý ở đầu nguồn huyện Khang Lộc đều là dân Man” (Lê Quý Đôn, 1964: 227). Cùng với A Rem, còn có các nhóm địa phương khác thuộc dân tộc Chứt như: Sách, Mày, Rục, Mã Liềng,… với đặc điểm đều cư trú ở vùng núi cao phía Tây Quảng Bình. Năm 1956, lần đầu tiên, 18 người A Rem được bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Bình phát hiện cư trú trong các hang đá đá vôi cheo leo, hiểm trở như hang Va, Bồng Cù, So Đũa… (Đơn Thương, 2021; Đoàn Thị Thanh Hương, 2021) ở vùng núi đá vôi trên địa bàn huyện Bố Trạch. Vào thời điểm này, họ đang sống một cuộc sống khá nguyên thủy như mặc áo vỏ cây, lương thực, thực phẩm có được chủ yếu từ săn bắt, hái lượm, ăn uống không qua đun nấu.

Ngày nay, sau một thời gian dài được sự quan tâm, hỗ trợ về nhiều mặt, từ chủ trương, chính sách đến các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp,… người A Rem ở Tân Trạch đã có cuộc sống định cư, có nhà ở kiên cố, từng bước ổn định đời sống sinh kế, xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Đặc biệt, từ những người không biết đọc, biết viết, đến nay, nhiều thế hệ con em người A Rem đã được đến trường, biết đến cái chữ, tích lũy kiến thức. Có nhiều em đã thi đậu đại học và đang theo học tại các trường đại học ở Quảng Bình cũng như khu vực miền Trung; có em sau khi tốt nghiệp đại học đã xung phong về làm việc tại địa phương, qua đó, có điều kiện hỗ trợ lại cộng đồng vươn lên trong cuộc sống cũng như trong học tập.

Ở Quảng Bình, người A Rem cư trú chủ yếu tại xã Tân Trạch, là một trong những nhóm địa phương thuộc dân tộc Chứt. Tên gọi A Rem theo cách giải thích có nghĩa là “mái đá, rèm đá” (ví dụ: Tơhung A Rem là người sống ở rèm đá, mái đá). Đây được xem là cách định danh dựa trên đặc điểm cư trú cũng như môi trường sống của A Rem cũng như các tộc người thiểu số cư trú ở dãy núi Trường Sơn. Chính vì tên gọi những tộc người theo cách hình thành như thế đã không có điều kiện tồn tại một cách dứt khoát, rõ ràng và bền vững trong chức năng vốn có của việc tự báo tộc danh. Ðó cũng chính là lý do hiện hữu cùng lúc nhiều tên gọi chỉ định tộc người ở miền đất này. Do vậy, tên gọi A Rem là danh xưng để phân biệt với những tộc người lân cận, kể cả với người miền xuôi, người đồng bằng. Ngày nay, người A Rem cư trú tập trung ở bản A Rem (còn gọi là bản 39), xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Theo số liệu thống kê của địa phương, năm 2024, xã Tân Trạch có 92 hộ dân, 368 nhân khẩu, trong đó, 66 hộ, 188 nhân khẩu là người A Rem (dân tộc Chứt), 15 hộ dân tộc Vân Kiều, số còn lại là các hộ người Kinh mới đến làm ăn, sinh sống những năm gần đây.

Trước đây, cuộc sống của người A Rem chủ yếu vẫn dựa vào nguồn lợi tự nhiên, với phương thức chính là khai thác hệ rau, củ, quả và săn bắt. Nguồn tài nguyên phong phú từ hệ sinh thái núi rừng Phong Nha - Kẻ Bàng cung cấp cho người A Rem một cuộc sống khá ổn định. Trong rất nhiều nguồn lợi thực vật, các loài cây tinh bột có vai rất quan trọng trong đời sống ẩm thực của người A Rem, đặc biệt là cây nhúc. Với tri thức truyền thống tích lũy qua thời gian, người A Rem có thể nhận biết được những loài cây có nhiều tinh bột, đây là nguồn lương thực chủ yếu trong thời kỳ còn cư trú ở trong hang đá. Cây nhúc được người A Rem đào về sử dụng hàng ngày và còn có thể làm lương thực dự trữ. Bên cạnh đó, các loại cây khác như: củ mài, củ nâu, các loại nấm, măng và hệ cây dại… cũng là nguồn lương thực quan trọng trong đời sống của người A Rem, đặc biệt là giúp đồng bào trải qua giai đoạn thiếu lương thực mùa giáp hạt.

Cùng với hái lượm, săn bắt là một trong những hình thái kinh tế nguyên thủy trong đời sống của người A Rem. Công việc săn bắt thường do đàn ông đảm nhiệm và diễn ra thường xuyên với hai hình thức là săn tập thể và săn cá nhân. Vũ khí săn bắt truyền thống của người A Rem sử dụng tương đối thô sơ như: như ná, các loại bẫy… nhưng tạo được nguồn thực phẩm dồi dào, nhiều giá trị dinh dưỡng. Bên cạnh sự đa dạng, phong phú của các loài thú rừng, hệ thống các dòng sông, suối với nguồn nước đã cung cấp cho người A Rem nhiều loài cá, tôm, nhuyễn thể phục vụ cho nhu cầu đời sống của thường nhật. Trong đó, Cà Ròong là một trong những dòng suối cung cấp nhiều loài cá, tôm, ốc… cho người A Rem ở Tân Trạch. Hoạt động đánh bắt cá diễn ra thường xuyên, không phân biệt gái, trai, nhiều người có thể cùng thực hiện công việc này. Ngoài việc sử dụng các loại lưới, đơm, đó… để bắt cá, người A Rem còn dùng vỏ một loại cây rừng (cây đò ho) có chứa chất độc thả xuống các đoạn sông, suối, sau khi cá ngấm chất độc, nổi lên mặt nước thì họ có thể dễ dàng vớt lên. Bên cạnh hình thái kinh tế khai thác từ tự nhiên là săn bắt, hái lượm, đến nay, hoạt động sản xuất trong đời sống người A Rem vẫn còn khá khiêm tốn. Họ vẫn chỉ quen với canh tác nương rẫy truyền thống, các loại cây trồng chủ đạo là lúa, ngô và sắn, rau, hoa màu... Phương pháp trồng trọt vẫn là phát, cốt, đốt, trỉa với những dụng cụ thô sơ như rìu, rựa, gậy chọc lỗ…

Ngày 2/3/2004, sự kiện khánh thành khu định cư mới với 42 căn nhà cho người A Rem ở xã Tân Trạch là dấu mốc bắt đầu cho quá trình ổn định cuộc sống định cư, từng bước phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của người A Rem ở miền Tây Quảng Bình. Nguồn vốn này được hỗ trợ từ Thành ủy, Ủy ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh với tổng giá trị 840 triệu đồng. Như đã đề cập, từ năm 1956, một nhóm nhỏ người A Rem được phát hiện cư trú trong các hang đá trải dài trên địa bàn từ Phong Nha đến Thượng Trạch. Từ đó, được sự vận động của chính quyền, người A Rem di chuyển về cư trú ở các bản Hung Va (Tân Trạch), bản Ban (Thượng Trạch). Năm 1983, người A Rem di chuyển ra cư trú ở khu vực km12 của đường 20 với khoảng 16 nóc nhà. Từ những năm 1983 -1990, cộng đồng người A Rem chuyển đến cư trú ở khu vực km12 (đường 20), bản Hung Va và rải rác trong rừng sâu. Tháng 12/1993, 23 hộ dân với 83 người được vận động về cư trú tập trung ở Bản Rét (Trần Trí Dõi, 1995). Từ năm 1993 đến 2004, người A Rem cư trú khá ổn định ở Bản Rét và sau đó, từ tháng 3/2024 sinh sống ổn định ở Bản 39 (xã Tân Trạch) (Lâm Bá Nam, 1996). Tính đến năm 2023, có 66 hộ và 188 nhân khẩu người A Rem cư trú ở bản A Rem (bản 39) của xã Tân Trạch. Tại khu định cư, đời sống người A Rem vẫn còn gặp không ít khó khăn như địa hình vùng núi rừng Phong Nha - Kẻ Bàng không bằng phẳng, diện tích cư trú nhỏ hẹp, khó phát triển được kinh tế sản xuất. Diện tích đất canh tác ít nên thời gian đầu, nguồn lương thực, nhu yếu phẩm khác chủ yếu dựa vào sự trợ cấp của Nhà nước. Hàng tháng, mỗi nhân khẩu trong độ tuổi lao động được hỗ trợ 10kg gạo, trẻ em được 5kg. Để ổn định cuộc sống lâu dài, bền vững, đồng bào A Rem từng bước tiến hành canh tác lúa rẫy. Bên cạnh đó, họ còn khai thác các sản vật từ núi rừng như thu hái các loại cây trái, khai thác mây rừng, mật ong… để trao đổi hoặc bán cho người Kinh để mua gạo và các loại nhu yếu phẩm cần thiết.

Những năm gần đây, người A Rem là một trong những chủ thể ký hợp đồng với Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng để tham gia bảo vệ rừng và được giao khoán bảo vệ 36.281 ha rừng thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ngoài ra, đồng bào còn tham gia vào các dự án trồng rừng, góp phần tăng độ che phủ cho rừng ở khu vực gần nơi cư trú. Từ năm 2007, Ban dự án huyện Bố Trạch (Dự án 661) đã đầu tư cho người dân bản 39 và bản Đoòng trồng và chăm sóc 5.100 gốc cây huê (7ha). Cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống điện nước cũng được Nhà nước và chính quyền địa phương quan tâm đầu tư, từng bước đồng bộ hóa. Đường giao thông dọc bản 39 được bê tông hóa, tạo điều kiện cho người dân lưu thông thuận lợi. Bên cạnh đó, tuyến đường tỉnh (đường 20 Quyết Thắng) được đầu tư nhựa hóa kết nối với đường mòn Hồ Chí Minh giúp cho đồng bào A Rem đi đến các xã khác cũng như trung tâm tỉnh lỵ thuận lợi hơn. Với đặc điểm địa bàn cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên nguồn điện chiếu sáng chủ yếu từ các nguồn như điện năng lượng mặt trời, máy phát điện cá nhân. Những hộ gia đình không có điện thắp sáng thì được chính quyền cung cấp 10 lít dầu/1 hộ/1 năm. Hệ thống thông tin, liên lạc được trang bị một tivi đặt tại trụ sở xã phục vụ cho người dân từ 19h đến 21h hàng đêm, nguồn phát từ đầu kỹ thuật số thu từ vệ tinh. Đến nay, điều kiện sống của người A Rem ở xã Tân Trạch như điện chiếu sáng, internet… đã được trang bị, đầu tư đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống, nhu cầu học tập của người dân, học sinh. Ngày nay, với cuộc sống định cư, tiếp cận, giao lưu văn hóa với các cộng đồng dân cư khác, nhiều hủ tục trong đời sống của người A Rem đã từng bước được xóa bỏ như tục nối dây, tục “nằm chọ” (phụ nữ sinh đẻ phải ở một mình ngoài chòi trong rừng hay trong vườn), biết ăn chín, uống sôi… Dù vậy, những phong tục tập quán đâu đó vẫn còn lưu dấu trong đời sống văn hóa của người A Rem như: quan hệ hôn nhân theo kiểu “giữ của” dù đã bớt đi nhiều hiện tượng ràng buộc nghiệt ngã; quan niệm về thế lực ma trong sự đối nghịch với thế giới thần linh, luôn gieo rắc tai hoạ, trở thành nỗi ám ảnh cho cả cộng đồng mà chúng ta khó có thể giải thích, thay đổi một cách nhanh chóng, giản đơn được; đồng bào vẫn chia của cho người chết một cách bình đẳng và không bao giờ trở lại nơi đó... Như vậy, từ môi trường sống biệt lập trong các hang đá, qua nhiều lần chuyển cư, đến nay, người A Rem đã có cuộc sống định cư tại bản mới, dù còn nhiều khó khăn, nhưng được sinh sống trong những ngôi nhà khang trang, kiên cố, người dân đã yên tâm ổn định cuộc sống, ổn định sinh kế, bảo tồn các giá trị văn hóa. Các mô hình sinh kế như trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế rừng được người A Rem áp dụng, góp phần gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Tổng nhập bình quân đầu người năm 2008 là 2,2 triệu đồng, tăng lên 15 triệu đồng vào năm 2023 (Đảng bộ huyện Bố Trạch, Đảng ủy xã Tân Trạch, 2024). Con số thu nhập này so với các địa phương khác, đặc biệt là vùng đồng bằng là còn rất thấp, nhưng đã là bước tiến lớn trong đời sống người A Rem ở Tân Trạch.

Từ những người không biết chữ, sau quá trình định cư nhiều gian khó, các thế hệ con em người A Rem được đến trường, tiếp cận với con chữ. Sau 20 năm, hành trình đi tìm con chữ của người A Rem đã đạt được những thành quả ngoài mong đợi. Từ những người không biết chữ, đến nay, hầu hết con em người A Rem đã được tạo điều kiện thuận lợi để đến trường, học chữ, học văn hóa, học nghề… tiếp thu kiến thức để có thể tự giúp bản thân cũng như người thân trong gia đình, cộng đồng làng bản. Nhiều tấm gương vượt khó trong học tập, vươn lên trong cuộc sống đã thổi vào cộng đồng A Rem là gió “hiếu học”, điển hình như tấm gương Đinh Chai, là người A Rem đầu tiên nhận bằng đại học. Noi theo tấm gương vượt khó, hiếu học của Đinh Chai, nhiều anh chị em trong gia đình cũng như trong cộng đồng người A Rem ở Tân Trạch đã nỗ lực trong học tập, vượt khó để theo học đại học ở các trường Đại học ở Quảng Bình cũng như khu vực miền Trung (Hoàng Nam, 2024).

Trong đời sống hiện nay, người A Rem thể hiện sự trân trọng và nỗ lực gìn giữ bản sắc văn hóa qua nhiều khía cạnh. Trước hết là ngôn ngữ - yếu tố quan trọng nhất thể hiện cội nguồn và bản sắc dân tộc. Dù tiếng A Rem đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của ngôn ngữ phổ thông và sự giao thoa văn hóa, nhưng nhiều người cao tuổi trong bản vẫn cố gắng truyền dạy lại tiếng mẹ đẻ cho thế hệ trẻ, thông qua giao tiếp hàng ngày, kể lại những chuyện dân gian hay hát những làn điệu dân ca cổ. Những nỗ lực đó thể hiện quyết tâm bảo tồn ngôn ngữ như một phần hồn thiêng của dân tộc. Những năm gần đây, dù mới bắt đầu nhưng người A Rem đã tham gia phát triển du lịch cộng đồng, giới thiệu văn hóa ẩm thực, tín ngưỡng truyền thống…, đến du khách trong và ngoài nước. Không ít thanh niên A Rem được đi học các lớp đại học, các lớp đào tạo nghề ngắn hạn… đã quay trở lại quê hướng góp phần làm nòng cốt trong việc phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng mình đến với đông đảo du khách trong và ngoài nước. Như vậy, người A Rem là một minh chứng sống động cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trong dòng chảy hiện đại. Dù còn nhiều khó khăn, họ đang từng ngày nỗ lực khẳng định bản sắc riêng, góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam, đồng thời gìn giữ cho thế hệ mai sau những giá trị văn hóa quý báu gắn liền với núi rừng Trường Sơn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Sau gần 70 năm từ cuộc sống hoang dã trong hang đá, tách biệt hoàn toàn với xã hội, đến nay người A Rem đã có một đời sống định cư ổn định, dù còn nhiều khó khăn nhưng đã đạt được những bước chuyển lớn trên nhiều phương diện, từ phát triển đa dạng các loại hình sinh kế đến bảo tồn các giá trị văn hóa, phát triển giáo dục, đào tạo, an sinh xã hội. Tại nơi ở mới, đồng bào A Rem đã từng bước làm quen với hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, nhờ đó, đời sống kinh tế người dân dần đi vào ổn định, không còn cảnh thiếu đói thường xuyên, đặc biệt là vào mùa mưa bão, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm dần.

Bên cạnh ổn định đời sống kinh tế sản xuất, công tác giáo dục đào tạo được Nhà nước, chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển góp phần giúp cho người A Rem quen dần với tiếng phổ thông, dễ dàng sử dụng trong giao tiếp song hành cùng với ngôn ngữ của dân tộc mình. Từ những người không biết chữ, đến nay, nhiều thế hệ con em người A Rem đã được đến trường, không ít người đã “thành tài”, có thể mang trí tuệ học được trở lại giúp đỡ đồng bào thoát khỏi đói nghèo, vươn lên trong cuộc sống. Họ chính là tương lai tươi sáng của người A Rem, là hạt nhân góp phần mang lại cho cộng đồng một cuộc sống tự lực vươn lên thoát khỏi cảnh đói nghèo, thiếu thốn về nhiều mặt, hướng tới sự phát triển bền vững. Trong những năm qua, Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp đã ban hành nhiều chính sách, thực hiện các biện pháp hỗ trợ đồng bào A Rem trên nhiều phương diện để từng bước ổn định cuộc sống, bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa đặc trưng. Đặc biệt, chính sự nỗ lực của đồng bào A Rem đã giúp cho họ có một cuộc sống định cư ổn định, hướng tới phát triển bền vững, góp phần từ bỏ những hủ tục gây hại, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào.

tapchikhxh.vass.gov.vn - Số 12/2025 (tnttrang)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ