SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá tầm nga (Acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại Tỉnh Lâm Đồng

[28/02/2026 19:27]

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá đặc tính lý hóa sinh của tinh trùng cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại tỉnh Lâm Đồng.

Ảnh minh họa: Internet

Tỉnh Lâm Đồng có điều kiện thuận lợi về thời tiết, khí hậu và nguồn nước để phát triển nuôi nhiều loại thủy sản khác nhau, đặc biệt là cá nước lạnh như cá tầm và cá hồi vân. Cá tầm bắt đầu được nuôi thử nghiệm tại Lâm Đồng từ năm 2006. Hiện nay, tỉnh là một trong những địa phương có sản lượng cá tầm lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, cần làm rõ tiêu chí đánh giá “địa phương đi đầu trong cả nước về sản xuất cá tầm”, vì điều này có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sản lượng, quy mô nuôi trồng hay công nghệ áp dụng. Tính đến năm 2021, toàn tỉnh có khoảng hơn 50 ha ao, bể và khoảng 200 lồng nuôi cá tầm (trên 20.000 m³), tập trung tại các huyện Lạc Dương, Đam Rông, Di Linh và thành phố Đà Lạt, với sản lượng đạt khoảng 3.000 tấn, chiếm trên 50% sản lượng cá tầm cả nước (Hiệp hội Phát triển cá nước lạnh tỉnh Lâm Đồng, 2022).

Các loài cá  tầm, bao gồm cá  tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii), được công nhận trên toàn cầu vì tầm quan trọng sinh thái và kinh tế, đặc biệt nhờ vai trò của chúng trong sản xuất trứng cá muối (Ronyai & Varadi,1995). Tuy nhiên, do khai thác quá mức, phá hủy sinh cảnh và ô nhiễm, quần thể cá tầm đã suy giảm đáng kể, đặt ra nhu cầu cấp thiết về các biện pháp bảo tồn và nuôi trồng để duy trì nguồn lợi này (Dettlaff et al., 2012). Để phát triển bền vững ngành nuôi cá tầm, cần quản lý hiệu quả các hoạt động nuôi trồng và triển khai các chương trình sinh sản nhân tạo. Một trong những yếu tố quan trọng là hiểu rõ đặc điểm hóa sinh và sinh lý của tinh trùng cá, bao gồm khả năng hoạt động, thời gian sống, độ nhạy với các điều kiện môi trường và phương pháp bảo quản. Kiến thức này giúp tối ưu hóa quy trình thụ tinh nhân tạo, nâng cao tỷ lệ thụ tinh thành công và cải thiện kỹ thuật bảo quản tinh trùng trong điều kiện lạnh, hỗ trợ việc duy trì và mở rộng sản xuất giống cá tầm (Borges et al., 2005; Hatef et al., 2007).

Chất lượng tinh trùng ở cá tầm, đặc trưng bởi mật độ tinh trùng thấp nhưng thời gian hoạt lực kéo dài hơn so với các loài cá xương, phụ thuộc  vào  thành  phần  của  huyết  tương  tinh trùng, bao gồm các thành phần ion và hữu cơ (Fauvel et al. 2010; Cosson, 2019; Linhart et al., 2002). Cụ thể, thành phần ion (như Na+, K+, Ca²+, Mg²+ và Cl-) và nồng độ thẩm thấu đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt lực và khả năng sống của tinh trùng, trong khi các thành phần hữu cơ như protein cũng ảnh hưởng đến thành công sinh sản (Alavi and Coson, 2006; Alavi et al., 2008; Li et al., 2011).

Các nghiên cứu trước đây về cá tầm Nga đã cung cấp thông tin về thành phần huyết tương tinh trùng và các đặc điểm tinh trùng, giúp làm rõ các đặc điểm hóa sinh đặc trưng của loài (Li et al., 2011; Li et al., 2012). Tuy nhiên, hiện nay có rất ít thông tin về tinh trùng cá tầm Nga nuôi tại Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện nuôi ở tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá các đặc tính hóa sinh và sinh lý của tinh trùng cá tầm Nga được nuôi tại khu vực này. Những kết quả thu được có thể giúp xây dựng các quy trình thụ tinh nhân tạo phù hợp với điều kiện nuôi tại Việt Nam, đồng thời cải thiện phương pháp bảo quản lạnh tinh trùng để tăng hiệu quả lưu trữ và sử dụng. Việc tối ưu hóa các kỹ thuật này không chỉ nâng cao tỷ lệ thụ tinh thành công mà còn góp phần duy trì và phát triển bền vững ngành nuôi cá tầm ở Việt Nam.

Nghiên cứu này đã xác định được các đặc tính lý, hóa và sinh học của tinh trùng cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii) nuôi tại tỉnh Lâm Đồng, cho thấy chất lượng tinh trùng ổn định và phù hợp với các giá trị đã được báo cáo trước đây. Thể tích tinh dịch trung bình đạt 63,33 ± 25,74 ml, mật độ tinh trùng 0,37×10⁹ tinh trùng/ml và độ quánh 60,56 ± 3,91%, đáp ứng yêu cầu cho ứng dụng thụ tinh nhân tạo. Nồng độ thẩm thấu (69,65 ± 5,06 mOsm/kg) và pH (7,67 ± 0,12) nằm trong phạm vi lý tưởng để duy trì hoạt lực và khả năng sống của tinh trùng. Thành phần ion trong huyết tương tinh trùng, bao gồm Na (34,42 ± 2,10 mM), K (2,30 ± 0,14 mM), Ca² (0,36 ± 0,04 mM), Mg² (0,73 ± 0,05 mM) và Cl (13,62 ± 0,53 mM), đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trạng thái hóa học và kéo dài thời gian hoạt lực tinh trùng, đạt trung bình 158,89 ± 36,21 giây. Phân tích tương quan cũng cho thấy Mg² có ảnh hưởng tích cực đến thời gian hoạt lực và vận tốc di chuyển của tinh trùng.

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, Trường ĐH Nha Trang, Số 1/2025
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ