Dấu hiệu và nguy cơ ô nhiễm nhựa trong đất và trầm tích xung quanh bãi chôn lấp không hợp vệ sinh tại khu vực nông thôn Tây Bắc Tỉnh Lâm Đồng
Đêm tối úa dần trên bầu trời Tây Nguyên khi những bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt tại khu vực Tây Bắc Tỉnh Lâm Đồng (trước tháng 7/2025 thuộc Đắk Nông cũ) lặng lẽ gặm nhấm nguồn nước và đất quanh mình bằng một cơ chế tưởng như vô hình mà lại vô cùng mạnh mẽ: rò rỉ chất thải, chất hữu cơ và vi nhựa từ mặt trên xuống sâu dưới, từ bề mặt đất lên lớp trầm tích và ngược lại.
Với quy mô lên tới 660 bãi chôn lấp rác thải ở cả nước và hơn 20.000 tấn rác thải mỗi ngày, chỉ 30% số bãi đạt chuẩn kỹ thuật, phần lớn còn lại đang rình rập với nguy cơ rò rỉ nước rỉ rác ra môi trường. Đây không chỉ là vấn đề vệ sinh công cộng mà còn là thách thức sinh thái, khi nước rỉ rác chứa đựng một hỗn hợp đa dạng các chất hữu cơ, kim loại và đặc biệt là các loại nhựa ở đủ dạng kích thước, có thể đi vào đất, nước mặt và nước ngầm quanh khu vực bãi chôn lấp. Trong bối cảnh đó, mức độ phơi nhiễm với ô nhiễm nhựa đang trở thành một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ đe dọa đối với cả hệ sinh thái và sức khỏe con người. Những cảnh báo về vi nhựa, một lớp nhựa có đường kính dưới 5 mm, và nhựa vĩ mô (>5 mm) ngày càng được nhìn nhận rộng rãi, đã được ghi nhận ở nhiều khu vực trên thế giới và không ngoại lệ với sự xói mòn, lắng đọng đất và trầm tích ở khu vực Tây Bắc Lâm Đồng. Các chất nhựa này, từ PVC, nylon, PET, PE, PP cho đến PS và nhiều loại polymer khác như PVA, PA, đang hiện diện trong đất và trầm tích; và sự hiện diện ấy không chỉ là một vấn đề mỹ quan mà còn là nguồn gốc của một chuỗi tác động sinh thái và sức khỏe đầy phức tạp.

Trong bối cảnh cụ thể của Tây Bắc Lâm Đồng, trước tháng 7/2025, khi hệ thống rác thuộc Đắk Nông cũ được sắp xếp lại, có tới 15/16 bãi chôn lấp rác thải không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật về mặt quản lý và xử lý. Năm 2023, toàn tỉnh ghi nhận khoảng 125.738 tấn chất thải rắn sinh hoạt (MSW) phát sinh, nhưng chỉ thu gom được 72,8%, tức là khoảng 27,2% lượng rác thải không được thu gom và do đó có nguy cơ rò rỉ cao vào môi trường. Lượng rác được thu gom và chôn lấp tại các bãi không hợp vệ sinh gia tăng nguy cơ rò rỉ MSW và các loại rác thải khác, bao gồm cả vi nhựa và các mảnh nhựa lớn hơn, vào đất và trầm tích. Hệ quả là mối đe dọa đối với sức khỏe con người và môi trường xung quanh, khi nước thải và chất thải nhựa từ các bãi chôn lấp không chuẩn đang lan tỏa và tích tụ tại khu vực vùng ven, ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái đất, nước và sinh vật sống. Đáng chú ý là vi nhựa, được xác định là các hạt nhựa có đường kính nhỏ hơn 5 mm, đang xuất hiện ngày càng phổ biến và có mặt ở mọi nơi. Ngoài vi nhựa, nhựa vĩ mô (>5 mm) cũng được ghi nhận hiện diện trong chu trình lắng đọng đất và trầm tích. Các loại nhựa được liệt kê gồm polyetylen (PE), polypropylen (PP), LDPE, HDPE, PVC, PET, PS và các loại polymer khác như PVA và PA; đây là những loại nhựa chính được nhận diện qua các báo cáo gần đây. Sự hiện diện của các mảnh nhựa không chỉ ảnh hưởng đến sinh vật thông qua nhiều con đường như tiêu hóa, hô hấp và lọc môi trường mà còn có nguy cơ gây căng thẳng sinh lý, giảm tăng trưởng và thậm chí tác động đến các quá trình sinh học của hệ tiêu hóa. Hơn nữa, nhựa và các mảnh nhựa có thể tồn tại lâu dài trong môi trường và đang được phát hiện ngày càng nhiều trong nước mặt, nước ngầm và đất trầm tích, từ đó đe dọa an toàn nguồn nước và chất lượng đất trồng trọt ở khu vực xung quanh các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Đây không chỉ là vấn đề ô nhiễm mà còn là mối hiểm họa đối với sức khỏe con người khi nhựa và vi nhựa có thể xâm nhập vào nguồn nước, thực phẩm, hô hấp, và các hệ cơ quan khác qua nhiều cơ chế tiếp xúc và tích lũy sinh học, kéo theo các rủi ro về hệ hô hấp, tiêu hóa, miễn dịch, thần kinh và nội tiết tố, và thậm chí có liên hệ với nguy cơ ung thư nếu tiếp xúc kéo dài và liên tục.
Mục tiêu của nghiên cứu này là cung cấp một cách tiếp cận định lượng và nhận diện rõ ràng các loại nhựa, bao gồm cả vi nhựa và các mảnh nhựa lớn hơn, hiện diện trong trầm tích và đất tại các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt không hợp vệ sinh ở khu vực Tây Bắc Lâm Đồng (tỉnh Đắk Nông cũ). Qua đó, nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm nhựa và đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả nhằm cải thiện môi trường xung quanh các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt tại địa phương. Nghiên cứu này cho thấy một bức tranh thực nghiệm rõ ràng về sự rò rỉ chất thải nhựa từ năm điểm tiếp nhận gần các bãi chôn lấp chính và cho thấy sự hiện diện của phổ biến các loại nhựa gia dụng trong cả mẫu đất và mẫu trầm tích. Sáu mẫu đất và trầm tích được thu thập và xử lý theo hướng dẫn NOAA, sau đó phân tích bằng quang phổ FTIR để nhận diện các loại nhựa. Kết quả này cho thấy rò rỉ chất thải nhựa từ bãi chôn lấp đã lan rộng ra môi trường và xâm nhập vào đất và nguồn nước tiếp nhận. Vi nhựa xuất hiện trên khắp các môi trường đất và trầm tích cho thấy mức độ rủi ro sinh thái đáng kể khi các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh tiếp tục hoạt động mà không có biện pháp kiểm soát thích hợp. Nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về sự hiện diện của vi nhựa trong đất và trầm tích tại khu vực Tây Bắc Lâm Đồng, đồng thời nhấn mạnh tính cấp thiết của các giải pháp quản lý, giám sát và cải thiện hệ thống xử lý chất thải rắn nhằm giảm thiểu lan truyền ô nhiễm.
Tóm lại, bức tranh khu vực cho thấy một thách thức kép: trước hết là việc số bãi chôn lấp không đạt chuẩn vẫn còn phổ biến và đang đóng góp đáng kể vào rò rỉ nước rỉ và nhựa vào đất và trầm tích; thứ hai là sự xuất hiện và lan tỏa của vi nhựa và nhựa vĩ mô trong hệ thống đất-trầm tích và nguồn nước, đe dọa cả quá trình lắng đọng và chu trình sinh thái của vùng. Những kết quả này làm nổi bật sự cấp thiết của việc tăng cường quản lý chất thải rắn tại khu vực Tây Bắc Lâm Đồng thông qua: (1) nâng cấp hoặc đóng cửa các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, (2) thiết lập hệ thống thu gom, xử lý và giám sát chất thải hiệu quả, (3) áp dụng công nghệ nhận diện và phân tích nhựa, đặc biệt là vi nhựa, trong đánh giá tác động môi trường, và (5) tăng cường giáo dục cộng đồng và cơ chế giám sát độc lập nhằm đảm bảo tính bền vững và an toàn cho sức khỏe con người và hệ sinh thái địa phương.
Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu, số 36 - Tháng 12/2025 (dtnkhanh)