Kinh tế trang trại, gia trại tạo động lực phát triển nông thôn
Nhờ sự năng động của người dân cùng sự quan tâm hỗ trợ của địa phương, kinh tế trang trại, gia trại tại xã Lương Bằng (tỉnh Hưng Yên) ngày càng mở rộng, trở thành hướng phát triển hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.
Chuỗi giá trị nông sản xanh ở Thái Nguyên
Không chỉ chú trọng mở rộng sản xuất, tỉnh Thái Nguyên thời gian quan đang từng bước xây dựng chuỗi giá trị nông sản xanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản.

Thái Nguyên định hướng phát triển nông nghiệp giảm phát thải, tái định vị nông sản theo hướng xanh. (Ảnh: TNGOV).
Thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình sản xuất và tăng cường liên kết tiêu thụ, nông sản của tỉnh Thái Nguyên ngày càng được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn trên thị trường. Không chỉ dừng lại ở việc nâng cao sản lượng, tỉnh chú trọng phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, việc liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp được thúc đẩy nhằm hình thành chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ ổn định. Các sản phẩm nông sản chủ lực như chè, rau, quả và chăn nuôi đang từng bước được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Đồng thời, tỉnh cũng chú trọng đầu tư vào khâu chế biến, bảo quản và xây dựng thương hiệu, giúp nâng cao giá trị sản phẩm. Việc phát triển chuỗi giá trị nông sản xanh không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân mà còn tạo nền tảng quan trọng để nông nghiệp Thái Nguyên phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và thân thiện với môi trường.
Đáng chú ý, để phát triển ngành nông nghiệp theo hướng an toàn, hiệu quả, UBND tỉnh Thái Nguyên vừa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”, cụ thể hóa các quyết định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Đây là bước đi thể hiện rõ định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng phát thải thấp, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu khi những tác động đến sản xuất ngày càng rõ nét và phức tạp. Theo mục tiêu của Đề án, đến năm 2035, lĩnh vực trồng trọt phấn đấu giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020. Cùng với đó, việc tham gia xây dựng và phát triển nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho sản phẩm trồng trọt mở ra cơ hội tái định vị nông sản Thái Nguyên trên thị trường theo hướng xanh và bền vững.
Tỉnh đặt mục tiêu triển khai tối thiểu 2 mô hình sản xuất giảm phát thải đối với cây chè và cây dong riềng. Việc lựa chọn cây chè, sản phẩm đặc trưng của Thái Nguyên, cho thấy chủ trương gắn mục tiêu giảm phát thải với lợi thế sẵn có. Nếu các mô hình được tổ chức bài bản, có sự tham gia của doanh nghiệp và hợp tác xã trong chuỗi giá trị, khả năng nhân rộng sẽ cao hơn, tránh tình trạng chỉ dừng ở phạm vi thí điểm.
Đáng chú ý, tỉnh Thái Nguyên định hướng thí điểm các mô hình canh tác có tiềm năng phát triển tín chỉ các-bon theo yêu cầu của các tổ chức quốc tế. Đây là cách tiếp cận mới, liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế xác nhận và giao dịch trên thị trường.
Trong bối cảnh đó, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong hướng dẫn, kết nối và bảo đảm hành lang pháp lý có ý nghĩa quan trọng, giúp người dân và doanh nghiệp hạn chế rủi ro khi tham gia lĩnh vực còn nhiều yếu tố mới.
Tầm nhìn đến năm 2050, ngành trồng trọt Thái Nguyên phát triển theo hướng phát thải thấp, sinh thái, hiện đại; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và nông nghiệp thông minh; hình thành cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải, kết nối với hệ thống giám sát quốc gia.
Đây là định hướng dài hạn, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi toàn diện. Yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải cần được triển khai đồng bộ, bảo đảm phục vụ kiểm kê khí nhà kính, hỗ trợ quản lý sản xuất, dự báo rủi ro và hoạch định chính sách.
Để thực hiện các mục tiêu trên, tỉnh xác định nhiều nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái; phát triển và áp dụng gói kỹ thuật canh tác giảm phát thải đối với cây trồng chủ lực; xây dựng mô hình sản xuất quy mô vùng gắn với chuỗi giá trị; kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp...
Bên cạnh những thuận lợi, thách thức lớn nhất nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Giảm phát thải trong trồng trọt đòi hỏi thay đổi tập quán canh tác, đầu tư công nghệ và tuân thủ quy trình kỹ thuật. Nếu thiếu cơ chế khuyến khích đủ mạnh, người dân khó chủ động chuyển đổi.
Vì vậy, cùng với giải pháp về khoa học công nghệ, truyền thông và nâng cao năng lực, việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ và xây dựng hệ thống đo lường bảo đảm liên thông với kiểm kê khí nhà kính quốc gia sẽ quyết định hiệu quả thực chất của Đề án.
Trong thời gian tới, việc tiếp tục hoàn thiện và mở rộng chuỗi giá trị nông sản xanh sẽ là nhiệm vụ quan trọng để Thái Nguyên nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Để đạt được mục tiêu này, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, khuyến khích các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp thông minh.
Đồng thời, việc xây dựng các vùng sản xuất tập trung, gắn với tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc rõ ràng sẽ giúp nâng cao uy tín nông sản trên thị trường. Bên cạnh đó, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp vẫn là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Công tác quảng bá, phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ cũng được chú trọng, đặc biệt là các kênh thương mại điện tử và xuất khẩu. Khi các khâu trong chuỗi giá trị được kết nối chặt chẽ và vận hành theo hướng xanh, nông sản Thái Nguyên không chỉ nâng cao giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn bền vững. Đây chính là nền tảng quan trọng để ngành nông nghiệp của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định.
Thúy Hà
https://thiennhienmoitruong.vn (ntdinh)