SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu chứa chlorantraniliprole và spinosad lên sâu non sâu keo da láng spodoptera exigua (hübner) hại hành

[14/03/2026 20:11]

Sâu keo da láng (SKDL) Spodoptera exigua(Hübner) là loài gây hại phổ biến trên nhiều loại cây trồng khác nhau, trong đó Việt Nam ghi nhận SKDL tấn công và gây hại nghiêm trọng cho nhiều loài cây trồng kinh tế, đáng chú ý là cây hành hoa (Allium fistulosum L.).

Các hoạt chất diệt sâu được khuyến cáo dùng trong công tác quản lý SKDL gồm nhiều nhóm thuốc, như pyrethroid, carbamate, indoxacarb, spinosad, chlorantraniliprole, avermectins, chlorfenapyr và emamectin benzonate, với vai trò chính là mở rộng phổ diệt và tỉ lệ diệt ở nhiều giai đoạn phát triển của sâu. Ở Việt Nam, các hoạt chất hiện được nhấn mạnh trong phòng trừ SKDL là chlorantraniliprole và spinosad, hai thành phần có nguồn gốc khác nhau nhưng đều có tác động lên hệ thần kinh và cơ chế sinh sản của sâu hại. Chlorantraniliprole thuộc nhóm diamide và tác động lên cơ quan Ryanodine receptor, gây bất hoạt hoạt động cơ bắp ở sâu, trong khi spinosad có nguồn gốc từ Saccharopolyspora spinosa và ảnh hưởng lên hệ Nicotinic acetylcholine receptors, từ đó làm giảm khả năng sống sót và sinh sản của sâu. Tuy nhiên, sự gia tăng sử dụng và lặp lại các nhóm thuốc này đã dẫn đến hiện tượng hình thành quần thể kháng thuốc tại nhiều nơi, đặc biệt là ở các đồng ruộng thương mại và khu vực trồng hành hoa, khiến hiệu quả quản lý càng trở nên phức tạp và đòi hỏi chiến lược quản lý bền vững hơn.

Ảnh minh họa

Các nghiên cứu khái quát gần đây cho thấy khi áp dụng thuốc trừ sâu chứa chlorantraniliprole và spinosad ở nồng độ LC30 trong 72 giờ lên SKDL, các chỉ số sinh học và phát triển của sâu bị ảnh hưởng đáng kể. Cụ thể, tỷ lệ sống đến trưởng thành giảm, vòng đời kéo dài và thời gian sống của trưởng thành giảm, tác động tới sức sinh sản và khả năng sinh sản thuần của SKDL tiếp xúc với thuốc so với nhóm đối chứng. Nồng độ LC30 của hai loại thuốc thí nghiệm cũng làm giảm hệ số tăng trưởng population growth rate (rm) và giá trị vốn hóa khác như giới hạn phát triển (λ) và thời gian một thế hệ (T), cho thấy ảnh hưởng bất lợi rõ rệt lên quần thể sâu. Trong khi chlorantraniliprole có ảnh hưởng mạnh lên tăng trưởng quần thể SKDL ở mức thận trọng hơn so với spinosad, cả hai thuốc đều làm giảm khả năng tái sinh và thích nghi của sâu, từ đó cho thấy rằng việc quản lý SKDL bằng đa thuốc và tích hợp các biện pháp kiểm soát khác sẽ mang lại hiệu quả lâu dài hơn.

Từ kết quả trên, việc triển khai chương trình quản lý tổng hợp SKDL nên dựa trên tiếp cận đa tầng và có thể bao gồm: (1) luân phiên hoặc kết hợp các hoạt chất có cơ chế tác động khác nhau để giảm áp lực chọn lọc và nguy cơ kháng thuốc; (2) tích hợp các biện pháp phi hóa học như thói quen canh tác, vệ sinh đồng ruộng và phát hiện sớm để giảm mật độ sâu và làm giảm phụ thuộc vào thuốc hóa học; (3) theo dõi tác động của thuốc lên quần thể SKDL và điều chỉnh liều lượng, thời gian phun và khoảng cách giữa các đợt phun nhằm duy trì hiệu quả diệt trừ và giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và động vật có ích. Kết quả này cung cấp thông tin hữu ích cho việc tối ưu hóa việc sử dụng thuốc trừ sâu trong các chương trình quản lý tổng hợp SKDL, nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu tiếp tục về tính kháng thuốc, ảnh hưởng sinh học trên các chỉ tiêu sinh tồn và sinh sản của sâu, cũng như sự điều chỉnh chiến lược quản lý dựa trên dữ liệu thực nghiệm và thực địa.

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2026, 24(2): 164-171 (ntdinh)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ