SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Nghiên cứu tuyển chọn giống đinh lăng (polyscias fruticosa (l.) harms) tại Hà Nội

[14/03/2026 20:34]

Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms), một đại diện điển hình của họ Araliaceae, còn được biết đến với nhiều danh xưng phổ thông như cây gói cá, cây nam dương sâm, hay “cây gói cá.”

”Dân gian tin rằng cây có chứa nhiều hợp chất quý cho dược liệu, đặc biệt ở rễ – phần có hàm lượng saponin đáng kể cùng với một tập hợp vitamin B1 dồi dào và 13 loại axit amin thiết yếu cho cơ thể. Những thành phần này kết hợp lại để tăng cường trí nhớ và nâng cao sức đề kháng, đồng thời làm tăng giá trị thực tiễn của đinh lăng như một nguyên liệu thảo dược quan trọng trong y học cổ truyền và hiện đại. Trong thực tế sử dụng và nghiên cứu, rễ của đinh lăng được xem như một nguồn nguyên liệu dễ tìm ở Việt Nam, thay thế cho nhân sâm trong một số ứng dụng và được nhắc đến trong nhiều công trình khoa học và tài liệu địa phương. Mặc dù đinh lăng đã được chú ý nhiều trên thị trường dược liệu, song vẫn còn những khoảng trống về tuyển chọn giống và chất lượng, đặc biệt là việc chưa có đủ tài liệu công bố về thành phần và chất lượng của từng giống trong danh mục sản xuất. Điều này gợi mở một hướng đi thiết yếu cho nghiên cứu và ứng dụng: hoàn thiện công tác tuyển chọn giống đinh lăng chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất dược liệu an toàn và hiệu quả ngày càng cao.

Ảnh minh họa

Nghiên cứu tuyển chọn giống đinh lăng triển vọng được tiến hành với 5 mẫu giống thu thập từ các địa phương khác nhau, bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ và có 3 lần nhắc lại, đặt tại Hà Nội trong giai đoạn từ 2019 đến 2021. Kết quả cho thấy hình thái của các mẫu giống rất đa dạng: thân bụi, tiết diện thân tròn, và ở các cây già xuất hiện các vết đốm không đều. Tất cả các mẫu đều có lá kép lông chim 2–3 lần, lục diện chét hình bầu dục, màu xanh và góc lá nhọn; tuy nhiên, VT-ĐL5.1 lại thể hiện đặc trưng riêng với lá hình bầu dục tròn và góc lá tù. Màu sắc lá của VT-ĐL4.1 xanh đậm nhất, trong khi VT-ĐL3.1 có kích thước lá nhỏ nhất. Dựa trên phân tích chiều cao cây và khả năng tích lũy chất khô, VT-ĐL5.1 ghi nhận sự tăng trưởng lớn nhất; ngược lại, VT-ĐL3.1 lại nổi trội về số nhánh nhưng tích lỹ chất khô kém hơn. Ba năm trồng cho thấy VT-ĐL5.1 đạt năng suất dược liệu cao nhất với 6,54 tấn/ha, tiếp theo là VT-ĐL2.1 với 6,14 tấn/ha và VT-ĐL4.1 với 6,23 tấn/ha. Tuy các mẫu gặp nhiễm bệnh vàng lá và thối rễ ở mức nhẹ, VT-ĐL4.1 và VT-ĐL2.1 cho hàm lượng axit oleanolic cao nhất lần lượt 0,104% và 0,094%, đồng thời hàm lượng chất chiết đạt 3,15%. Những kết quả này cho thấy sự tiềm năng của VT-ĐL4.1 và VT-ĐL2.1 trong việc bổ sung và hoàn thiện bộ giống đinh lăng phục vụ sản xuất dược liệu, đồng thời mở ra cơ hội cho quy trình tuyển chọn và nuôi trồng hiệu quả hơn trong tương lai.

Công tác tuyển chọn giống đinh lăng tại Hà Nội kết hợp với các địa phương đã cho thấy một bức tranh rõ nét về tiềm năng sinh trưởng và chất lượng của các dòng giống khác nhau. VT-ĐL5.1 nổi trội về cả chiều cao và tích lũy khối lượng chất khô, cho thấy khả năng phát triển nhanh và quy mô sản xuất lớn. VT-ĐL4.1 và VT-ĐL2.1 lại thể hiện ưu thế riêng về chất lượng, đặc biệt là hàm lượng axit oleanolic và khả năng chiết xuất cao, cho thấy sự phù hợp của hai giống này để bổ sung vào bộ giống kinh doanh dược liệu. Mức nhiễm bệnh ở mức nhẹ cho thấy tiềm năng ứng dụng thực tế trong sản xuất với chi phí bảo dưỡng tương đối hợp lý. Những kết quả này không chỉ là đóng góp khoa học cho lĩnh vực cây dược liệu mà còn mang lại cơ hội thực tế cho người trồng và doanh nghiệp trong việc tối ưu hóa quy trình tuyển chọn giống và nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong bối cảnh thị trường đinh lăng ngày càng mở rộng và yêu cầu chất lượng ngày càng cao, công tác tuyển chọn giống chất lượng tốt trở thành một yếu tố then chốt để đảm bảo năng suất, protein chất lượng và tính ổn định của sản phẩm cuối cùng, từ đó đáp ứng nhu cầu thăm dò và ứng dụng ngày càng đa dạng của ngành dược liệu Việt Nam và khu vực.

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2026, 24(2): 184-192 (ntdinh)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ