Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất phân nền trồng cây thủy sinh từ mùn cưa sau trồng nấm
Dựa trên bối cảnh thị trường và thực tế sản xuất phân nền cho cây thủy sinh, đề tài nghiên cứu được triển khai nhằm xây dựng một quy trình sản xuất phân nền từ mùn cưa sau trồng nấm, vừa tận dụng phụ phẩm nấm để giảm chi phí, vừa đảm bảo chất lượng nước và sức khỏe của hệ sinh thái bể nuôi và trang trí.
Phương án này xuất phát từ nhận thức rằng các loại phân nền thương mại có giá thành cao và đôi khi không ổn định về chất lượng, trong khi nguồn nguyên liệu từ mùn cưa sau trồng nấm lại dồi dào, chi phí thấp nhưng đòi hỏi xử lý thích hợp để đạt chuẩn. Để hiện thực hóa, nghiên cứu đã đặt mục tiêu hai thí nghiệm chính: (TN1) sản xuất phân nền từ mùn cưa sau trồng nấm và (TN2) đánh giá ảnh hưởng của phân nền thu được đến sự tăng trưởng và phát triển của hai loại sinh vật nước tiêu biểu là cây thanh hồng điệp và cá neon.
Kết quả ở TN1 cho thấy công thức ủ tối ưu là sự pha trộn 60% mùn cưa sau trồng nấm với 40% phân gà, giúp các chỉ tiêu chất lượng đạt mức tốt nhất: carbon hữu cơ tổng 9,63%, tổng nitơ 0,66%, phốt-pho hữu hiệu (P2O5) 1,06% và potassium oxide hữu hiệu (K2O) 752 mg/kg. Bên cạnh đó, sản phẩm ủ được đưa vào thử nghiệm phối trộn với ba phụ gia và ba tỷ lệ khác nhau, từ đó xác định được ba công thức phân nền gọi là A, B và C. Công thức A gồm 95% mùn cưa sau ủ và 5% bột Kaolin; Công thức B gồm 90% mùn cưa sau ủ và 10% bột Kaolin; Công thức C gồm 85% mùn cưa sau ủ và 15% bột Kaolin. Các công thức này đều được đánh giá dựa trên tiêu chí chất lượng nước, khả năng phân hủy và tính thích hợp để làm nguyên liệu cho TN2 trồng cây và nuôi cá. Sau khi tiến hành thí nghiệm, phân nền C được ghi nhận đạt các tiêu chí về chất lượng nước phù hợp cho cây thủy sinh và cá neon, đặc biệt là ổn định pH và mức độ ammonium/ammonia (NH4+/NH3) cùng nitrite (NO2), từ đó đảm bảo môi trường sinh trưởng tối ưu cho cây thanh hồng điệp và cá neon.

Ảnh minh họa
TN2 tập trung phân tích tác động của phân nền thu được từ TN1 lên sinh trưởng và phát triển của hai đối tượng thực vật và động vật thủy sinh. Kết quả cho thấy, phân nền được chọn từ công thức C không chỉ duy trì được điều kiện nước ổn định mà còn hỗ trợ tăng trưởng tốt cho cây thanh hồng điệp, đồng thời tạo điều kiện sống thuận lợi cho cá neon với tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu cũng làm sáng tỏ vai trò của việc cân bằng thành phần hữu cơ và dinh dưỡng trong phân nền, đặc biệt là cách mà tỷ lệ mùn cưa và kaolin ảnh hưởng đến khả năng giữ nước, diện tích tiếp xúc dinh dưỡng và quá trình phân hủy sinh học trong bể nuôi và bể trồng cây.
Từ những phát hiện này, dự án có thể đóng góp một hướng tiếp cận tiết kiệm và bền vững cho ngành thủy sinh tại Việt Nam. Việc tận dụng mùn cưa sau trồng nấm làm nguồn nguyên liệu chính cho phân nền không chỉ giúp giảm giá thành cạnh tranh so với các sản phẩm nhập ngoại như ADA Amazonia hay Gex mà còn giảm thiểu lượng chất thải từ ngành trồng nấm, đồng thời giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do bã thải nấm. Mô hình sản xuất đề xuất với ba công thức phân nền dựa trên tỷ lệ mùn cưa và kaolin cho phép người nuôi trồng lựa chọn tùy theo điều kiện nước và mục tiêu nuôi trồng của mình. Riêng công thức C được xem là tối ưu nhất, vừa đảm bảo chất lượng nước trong bể nuôi cá neon, vừa đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây thanh hồng điệp, từ đó nâng cao hiệu quả nuôi trồng và trang trí thủy sinh trong nước ta. Trên cơ sở kết quả TN1 và TN2, có thể triển khai thử nghiệm mở rộng ở quy mô lớn và đánh giá lâu dài ảnh hưởng của phân nền từ mùn cưa sau trồng nấm đến chất lượng nước, sự đa dạng của thực vật thủy sinh, cũng như sức khỏe và sinh trưởng của cá và các sinh vật nước khác, từ đó hoàn thiện quy trình công nghệ và đưa ra khuyến nghị ứng dụng thực tế.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 25(1)/2026 của Đại học Nông Lâm TP.HCM (ntdinh)