SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh

[17/03/2026 21:38]

TP.HCM được xem là một trong những đô thị lớn trên thế giới, với dân số ước tính 8,1 triệu người vào năm 2015 và dự báo tăng lên gần 9,5 triệu trước năm 2050 (GSO, 2016). Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu, TP.HCM đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng.

Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2010, 2013), BĐKH mang đến rủi ro lớn cho TP.HCM và thành phố nằm trong nhóm 10 đô thị có lượng dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Những ảnh hưởng này không chỉ thể hiện ở hiện tượng trực tiếp mà còn lan rộng qua nhiều lĩnh vực sống, cả hữu hình lẫn vô hình. MONRE (2016) ước tính nếu mực nước biển dâng lên 1 m, TP.HCM có thể mất khoảng 17,8% diện tích do ngập lụt; đồng thời giai đoạn 2005–2010 cho thấy BĐKH gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp do áp thấp nhiệt đới, bão, triều cường và mưa lớn gây ngập úng kéo dài (DONRE, 2010). Những hệ quả này nhấn mạnh sự phụ thuộc rất lớn của nông nghiệp thành phố vào điều kiện thời tiết và khí hậu đang biến đổi.

 Ảnh minh họa

Để đối phó và thích ứng, cần một cách tiếp cận hệ thống đánh giá tính tổn thương do BĐKH cho nông nghiệp TP.HCM. Chỉ số tính dễ bị tổn thương (TDBTT) dựa trên chỉ thị được xem là phương pháp luận có nhiều ưu điểm. Balica và cộng sự (2012) cho rằng các chỉ thị có thể dùng để xây dựng nhiều kịch bản phù hợp với từng đối tượng tác động, đồng thời nhận diện và định lượng các đặc điểm vốn có của hệ thống bị phơi nhiễm trước các hiện tượng khí hậu cực đoan. Can và cộng sự (2013) nhấn mạnh khả năng xác định mức độ tổn thương riêng cho từng vùng, hỗ trợ so sánh không gian trong đánh giá. Nhìn chung, các chỉ thị như những mảnh ghép ghép lại thành một bức tranh tổng thể về tổn thương do BĐKH cho đối tượng nghiên cứu và đã được ứng dụng thành công trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước.

Dù TDBTT có nhiều quan điểm định nghĩa và chưa có khái niệm chuẩn duy nhất, nghiên cứu này tiếp cận từ khái niệm IPCC: tổn thương là “mức độ một hệ thống nhạy cảm hoặc không thể chịu đựng trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và hiện tượng khí hậu cực đoan” (IPCC, 2014). Theo đó, TDBTT gồm ba yếu tố: Exposure (E) – phơi nhiễm, Sensitivity (S) – nhạy cảm, và Adaptive Capacity (AC) – khả năng thích ứng. AC thể hiện mức độ hệ thống có thể giảm thiệt hại hoặc tận dụng cơ hội từ các tác động, từ đó làm giảm TDBTT khi các biện pháp thích ứng được tăng cường. Nghiên cứu này tập trung hai hướng chính: (i) sự hỗ trợ từ chính quyền và (ii) khả năng tự ứng phó của người dân, thông qua các tiêu chí nhận thức BĐKH, kinh nghiệm ứng phó, sự hỗ trợ từ chính quyền và khả năng tiếp cận nguồn lực. Nghiên cứu kỳ vọng cung cấp thông tin hữu ích cho Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM nhằm ban hành chính sách thích ứng với BĐKH, đồng thời làm cơ sở cho phân vùng và phân tích không gian về mức độ thích ứng của từng quận/huyện, từ đó định hướng các biện pháp hỗ trợ và đầu tư phù hợp với đặc thù từng khu vực.

Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển19(2)/2020 - Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (dtnkhanh)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ