Đánh giá đặc tính và tiềm năng ứng dụng của tro đốt chất thải y tế trong sản xuất vật liệu xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Dựa trên các dữ liệu hiện có, tro đốt từ rác thải y tế tại TP. Hồ Chí Minh (CTYT) đang hiện diện như một nguồn tài nguyên tiềm năng cho ngành vật liệu xây dựng, đồng thời gợi mở cơ hội phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Ở mức toàn thành phố, trung bình mỗi ngày phát sinh khoảng 33 tấn CTYT từ hơn 8.000 cơ sở y tế, áp lực lớn lên hệ thống xử lý và độ phức tạp của công nghệ xử lý còn tồn tại do nhiều yếu tố như thiết bị chưa đồng bộ, chi phí vận hành cao và phân loại tại nguồn chưa triệt để. Hiện nay, CITENCO vận hành lò đốt hai giai đoạn cho CTYT nguy hại với công suất khoảng 14–21 tấn/ngày, một quy mô vừa phải so với khối lượng chất thải sinh ra và hướng tới tối ưu hóa nguồn năng lượng và nguyên liệu. Đáng chú ý, tro đáy từ quá trình đốt này chứa các thành phần như CaO, SiO2, Al2O3 và kim loại nặng ở mức cho phép, đồng thời có hoạt tính pozzolanic ở mức thấp–trung bình nhưng có thể được khai thác hiệu quả như phụ gia khoáng trong các ứng dụng xây dựng nếu được xử lý đạt chuẩn và gắn với các biện pháp BVMT phù hợp.
.jpg)
Ảnh minh họa
Nghiên cứu thu thập tro đáy từ CTYT nguy hại tại TP.HCM cho thấy tiềm năng ứng dụng an toàn môi trường và khả năng tái sử dụng đáng kể. Các chỉ tiêu phân tích cho thấy florua dao động 2,42–2,80 mg/L, kim loại nặng không phát hiện và clo (Cl) ở mức 1,80–1,93%, cho thấy tro đáy có mức độ nhiễm khuẩn kim loại nặng thấp và mức độ axit-baz thấp phù hợp cho các mục tiêu tái sử dụng trong vật liệu xây dựng. Thử nghiệm sản phẩm gạch không nung từ tro đáy cho thấy các chỉ tiêu cơ bản tích cực: cường độ nén đạt khoảng 2,0 MPa, độ hút nước ở khoảng 10–12% và hệ số hình dạng (shape factor) tương đối ổn định ở mức 0,96. Những kết quả này gợi ý rằng tro đáy CTYT có thể đóng vai trò là phụ gia khoáng thay thế một phần cát hoặc các thành phần khoáng truyền thống trong sản xuất gạch không nung, đồng thời góp phần tăng cường độ cơ lý và đồng nhất cấu trúc của sản phẩm.
Với triển khai thực tiễn tại TP.HCM, tiềm năng sản xuất gạch từ tro đáy CTYT nguy hại có thể đóng góp đáng kể cho chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng địa phương. Ước tính cho thấy mỗi ngày TP.HCM có thể sản xuất khoảng 9.996–10.995 viên gạch từ tro đáy này, qua đó giảm khối lượng chất thải chôn lấp và giảm phát thải khí nhà kính do việc đốt và chôn lấp CTYT. Việc đẩy mạnh ứng dụng tro đáy CTYT trong gạch không nung và các loại vật liệu nền đường không nung sẽ góp phần nâng cao tính bền vững của ngành xây dựng thành phố, đồng thời thúc đẩy kinh tế tuần hoàn bằng cách biến một phần rác thải y tế thành nguồn tài nguyên có giá trị và giảm thiểu chi phí xử lý tại nguồn. Tuy vậy, để đi vào sản xuất ở quy mô rộng và đạt chuẩn môi trường, cần tiếp tục kiểm chứng và tối ưu hóa các tiêu chuẩn Việt Nam (như TCVN 6260:2009, TCVN 6477:2016, QCVN 07:2009/BTNMT) liên quan đến tro đáy và sản phẩm gạch không nung từ tro này, đồng thời đảm bảo an toàn cho người thi công và người dùng cuối khi tham gia vào chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng.
Tóm lại, tro đáy từ CTYT nguy hại tại TP.HCM đã cho thấy tiềm năng đáng kể để được sử dụng làm phụ gia khoáng trong sản xuất gạch không nung và vật liệu nền đường, với các chỉ tiêu môi trường và cơ học ban đầu đáp ứng yêu cầu an toàn và hiệu suất ở mức phù hợp. Đầu tư thêm cho nghiên cứu và thẩm định tiêu chuẩn, đồng thời triển khai thí điểm ở quy mô vừa và lớn sẽ giúp thành phố tối ưu hóa.
Tạp chí Môi trường, chuyên đề số IV/2025 (dtnkhanh)