Nghiên cứu hạch toán giá trị dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2020
Dựa trên tiềm năng và định hướng phát triển xanh của hệ sinh thái đất ngập nước (ĐNN) tại Quảng Ninh, vai trò của ĐNN vượt lên khuôn khổ sinh thái thuần túy để trở thành nền tảng thiết yếu cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
ĐNN không chỉ cung cấp nguồn thủy sản và dưỡng chất cho chu trình carbon mà còn đóng vai trò then chốt trong bảo vệ tuyến bờ, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và duy trì chất lượng nước; những chức năng này tạo nền tảng cho sinh kế của hàng trăm nghìn hộ dân thông qua nghề cá, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái. Trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi từ tăng trưởng nâu sang mô hình xanh, Quảng Ninh nổi lên như một khu vực điển hình để thử nghiệm việc tích hợp giữa bảo tồn tài nguyên và khai thác hợp lý, nơi đầm phá, rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển vừa là lớp chắn trước thiên tai, vừa là nguồn lực kinh tế xanh mang lại giá trị gia tăng và động lực phát triển bền vững cho địa phương.

Ảnh minh họa
Trong khuôn khổ SEEA EA, hạch toán các DVHST được xem như chuẩn mực quốc tế kết nối giữa hệ thống thông tin sinh thái và nền kinh tế. Ba nhóm DVHST - cung cấp, điều tiết và văn hóa - được điều chỉnh để phản ánh đầy đủ giá trị mà ĐNN mang lại cho tỉnh Quảng Ninh. Dịch vụ cung cấp chủ yếu thể hiện qua giá trị thủy sản và nguồn nước cho nuôi trồng; dịch vụ điều tiết thể hiện qua khả năng giảm nhẹ lũ lụt, bảo vệ đất liền trước bão và duy trì chất lượng nước, đồng thời duy trì chu trình dinh dưỡng cho hệ sinh thái ven biển; dịch vụ văn hóa thể hiện qua giá trị của du lịch sinh thái và giáo dục môi trường. DVHST liên kết chặt chẽ với các hệ sinh thái ven biển và rừng ngập mặn, nơi những “lá chắn sinh học” tự nhiên vừa bảo vệ cộng đồng vừa mở ra cơ hội cho phát triển kinh tế xanh. Ở Quảng Ninh, SEEA EA còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc: chuyển biến không gian-thời gian của ĐNN thành hệ thống chỉ số kinh tế-xã hội, phục vụ quyết định cấp tỉnh và hỗ trợ hoạch định chiến lược phát triển nhằm tối ưu hóa GDP xanh và quản lý tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững.
Việc tích hợp dữ liệu Landsat, thông tin GIS và phân tích thống kê cho phép định lượng phạm vi và trạng thái ĐNN trong giai đoạn 2015–2020 bằng các chỉ số NDVI, NDWI và NDMI để nhận diện và đánh giá mức độ bền vững của ĐNN, từ đó xác định diện tích bị thu hẹp và các thay đổi môi trường liên quan. Phương pháp này cho phép xây dựng một bức tranh động về DVHST theo ba nhóm dịch vụ và làm rõ ảnh hưởng của đô thị hóa, biến đổi khí hậu và các yếu tố tác động đến nguồn lực ven biển. Kết quả cho thấy diện tích ĐNN giảm 5,7% trong 2015–2020, báo hiệu áp lực lên hệ sinh thái và sinh kế địa phương; song dấu ấn tích cực là DVHST có tổng giá trị lên tới 12.289,4 tỷ VND, tăng 59% so với thời kỳ trước. Trong cơ cấu DVHST, dịch vụ cung cấp thủy sản vẫn chiếm vai trò chủ đạo về giá trị, cho thấy nguồn lực nghề cá và nuôi trồng thủy sản vẫn là trụ cột quan trọng của sinh kế; đồng thời sự giảm sút của dịch vụ văn hóa-du lịch sinh thái phản ánh ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và suy thoái chất lượng hệ sinh thái rừng ngập mặn, nhấn mạnh sự kết nối giữa sức khỏe hệ sinh thái và chất lượng đời sống cộng đồng ven biển. Quảng Ninh, với hệ thống ĐNN đa dạng gồm rừng ngập mặn, đầm phá ven biển và cỏ biển, đã và đang hình thành một khuôn mẫu cho quản lý và quy hoạch SD-SEEA EA ở cấp tỉnh, vừa tối ưu hóa khai thác tài nguyên vừa bảo đảm bảo vệ bền vững tính đa dạng sinh học và các chu trình sinh thái thiết yếu cho vùng ven biển.
Tạp chí Môi trường, chuyên đề số IV/2025 (dtnkhanh)