Tổng quan về tảo nở hoa gây hại: nguyên nhân và tác động đến sự phát triển nuôi trồng thủy sản
Tảo gây hại (HAB – Harmful Algae Bloom) là hiện tượng tự nhiên xảy ra khi tảo (một loài hoặc nhiều loài) phát triển bùng phát, làm xáo trộn hệ sinh thái và gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh vật thủy sinh.
HAB có thể khiến cá, tôm, động vật thân mềm… chết hoặc suy giảm, đồng thời làm giảm chất lượng môi trường nước. Bên cạnh tác động sinh thái, một số loài tảo tiết độc tố trong quá trình nở hoa kéo dài từ vài ngày đến vài tuần, dẫn đến các dạng ngộ độc như PSP, DSP, ASP, NSP và CFP ở người thông qua chuỗi tiêu thụ thủy sản. Trên thế giới đã ghi nhận hàng trăm loài tảo nở hoa, trong đó nhiều loài thuộc nhóm tảo giáp có khả năng sản sinh độc tố.

Ảnh minh họa
Sự hình thành và gia tăng của HAB chịu chi phối mạnh bởi các điều kiện môi trường như nhiệt độ, hàm lượng dinh dưỡng (đặc biệt là tỉ lệ N:P), độ mặn, và các biến động theo không gian – thời gian. Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh và ngày càng thâm canh, lượng chất dinh dưỡng thải ra từ thức ăn và chất thải hữu cơ làm môi trường nước dễ phú dưỡng hơn, tạo điều kiện cho tảo bùng phát thường xuyên. HAB vì vậy trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với nuôi cá lồng bè ngoài khơi và các hệ thống nuôi trong ao, đồng thời có thể gây thiếu oxy do một số loài tảo làm suy giảm chất lượng nước, khiến thủy sinh vật chết hàng loạt.
Các loài tảo thường gặp gây HAB có thể kể đến Chaetoceros, Heterosigma, Microcystis, Karenia, Alexandrium, Pyrodinium, Noctiluca, Dinophysis, Trichodesmium, Prorocentrum, Pseudonitzchia và Cochlodinium… Các đợt nở hoa này gây hại đến cá, tôm, động vật thân mềm trong tự nhiên lẫn trong ao nuôi, và ở người có thể gây ra các bệnh nghiêm trọng liên quan đến ngộ độc độc tố tảo. Vì vậy, bài viết tập trung thảo luận sự xuất hiện, các yếu tố sinh ra và duy trì HAB, cũng như tác động của HAB đối với nuôi trồng thủy sản trong quá khứ, hiện tại và tương lai; từ đó hướng tới nâng cao đánh giá rủi ro ngộ độc nguồn thực phẩm cho người tiêu dùng.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2026, 24(1): 107-119 (ntdinh)