An ninh môi trường khu vực biên giới vùng Trung du và miền núi phía Bắc dưới tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đang tác động đến mọi lãnh thổ và lĩnh vực hoạt động, trở thành nhân tố quan trọng cần chủ động thích ứng trong các chiến lược phát triển, nhất là các khu vực có điều kiện địa hình chia cắt, nguồn lực phát triển còn hạn chế như khu vực biên giới vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Mặc dù các địa phương trong vùng đã triển khai nhiều giải pháp nhưng chủ yếu mang tính giải quyết tình huống, thiếu đồng bộ. Do đó, để đảm bảo tính chủ động trong thích ứng với biến đổi khí hậu cần có những giải pháp phát triển theo hướng “thuận thiên”, phát huy tốt các giá trị dịch vụ hệ sinh thái, nhất là hệ sinh thái rừng để đảm bảo tính ổn định của khu vực biên giới vùng Trung du và miền núi phía Bắc trong triển khai các mô hình phát triển theo hướng xanh, bền vững.

Khu vực biên giới vùng Trung du và miền núi phía Bắc là vùng lãnh thổ giáp ranh với hai quốc gia láng giềng, gồm Trung Quốc và Lào. Khu vực có điều kiện địa hình chia cắt phức tạp, thượng nguồn của các lưu vực sông chính ở miền Bắc nước ta. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển, khu vực này đang phải đối mặt với nhiều thách thức, như: quy mô kinh tế nhỏ, phương thức khai thác, sử dụng lãnh thổ chưa đảm bảo tính bền vững, thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt, rét đậm, rét hại, nắng nóng, nhất là tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đã làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, kết hợp với nhu cầu phát triển và diễn biến có tính “dây chuyền” của các hiện tượng mưa lớn, lũ cực đoan khiến cho chất lượng môi trường của khu vực bị suy giảm, đe dọa đến sự ổn định của các thành phần môi trường; đòi hỏi công tác thích ứng với BĐKH cần chủ động hơn, mang tính khoa học hơn để đảm bảo tính bền vững cho tiến trình phát triển lâu dài của vùng Trung du và miền núi phía Bắc nói chung và khu vực biên giới nói riêng.
Khu vực biên giới vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 7 tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng và Lạng Sơn, có ranh giới giáp 3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp Lào với diện tích 62.020,7 km², dân số năm 2023 gần 5,5 triệu người, chiếm 65,2% diện tích và 41,7% dân số toàn vùng; mật độ dân số đạt 90 người/km², bằng 65% so với mật độ dân số toàn vùng và 29,7% so với mật độ dân số trung bình cả nước. Quy mô kinh tế rất nhỏ, thu nhập bình quân đầu người theo tháng thấp nhất cả nước, chỉ bằng 50,9%; thấp hơn 27% thu nhập trung bình toàn vùng; trong đó, 05/07 tỉnh, gồm: Hà Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La có mức thu nhập bình quân đầu người theo tháng chỉ bằng khoảng 63-70% trung bình toàn vùng và chưa bằng 50% trung bình cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước, gấp 6,3 lần so với trung bình cả nước và 2 lần so với trung bình toàn vùng, cao nhất là tỉnh Hà Giang và Điện Biên gần 30% (Tổng cục Thống kê, 2024).
Nằm ở thượng nguồn các sông lớn nên địa hình khu vực biên giới có sự biến đổi về cao độ rất lớn và phức tạp, phân hoá mạnh với nhiều dãy núi cao, hệ thống sông suối dày đặc xen với các thung lũng và cao nguyên. Điều kiện tự nhiên thuộc 02 tiểu vùng: (i) Tiểu vùng Tây Bắc, gồm 03 tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Địa hình chủ yếu là vùng núi và cao nguyên, sắp xếp gần như theo một hướng thấp dần từ Tây Bắc đến Đông Nam, có một số đỉnh núi cao trên 2.000m ở phía cực Tây Bắc và ở biên giới Việt - Lào. Đặc trưng khí hậu, ít mưa phùn vào mùa đông, mùa hè nóng, nhiều gió Tây khô nóng, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới; (ii) Tiểu vùng Đông Bắc, gồm các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng. Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Đặc trưng khí hậu, nhiều mưa phùn vào mùa đông, mùa hè nóng, ít gió Tây khô nóng, chịu ảnh hưởng trực tiếp của áp thấp nhiệt đới, mưa nhiều. Mùa mưa của 02 tiểu vùng gần trùng với mùa nóng, nhiệt độ trung bình năm khoảng 18-23oC, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.400-2.000mm, hạn hán thường xảy ra vào mùa đông. Mưa lớn tập trung thường xuất hiện, kết hợp địa hình dốc là nguyên nhân chính gây ra lũ, lũ quét và sạt lở đất, sạt lở bờ sông suối, nhất là tác động của BĐKH, tính cực đoan của thời tiết ngày càng gia tăng.
Những năm qua, do ảnh hưởng của BĐKH và tác động tiêu cực của phát triển kinh tế, xã hội, diễn biến thiên tai ngày càng gia tăng tính cực đoan, trong đó đặc biệt là bão mạnh, siêu bão, lũ quét, sạt lở đất, lũ lớn, lũ lịch sử xuất hiện với tần suất ngày càng cao gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.
Một số giải pháp chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu khu vực biên giới vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Một là, hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực thi chính sách có liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu, tập trung vào:
(i) Đảm bảo tính tổng hợp, hệ thống trong thực thi các chính sách phát triển vùng gắn với chủ động thích ứng BĐKH. Trước mắt cần rà soát hệ thống pháp luật, chính sách hiện hành, đánh giá mức độ quan tâm, đảm bảo tính hài hòa với yếu tố thích ứng chủ động trong các chiến lược, kế hoạch phát triển, từ đó xác định những văn bản cần ban hành, cần sửa đổi bổ sung và những nội dung cần bổ sung để nâng cao trách nhiệm của các ngành, các cấp. Xây dựng các cơ chế khuyến khích việc phối hợp thực hiện các chương trình quốc gia, tránh dàn trải, cần ưu tiên tính đột phá, chất lượng; đồng thời, đẩy mạnh được vai trò của các chủ thể trong triển khai các giải pháp thích ứng.
(ii) Cải thiện năng lực thực thi chính sách, có giải pháp để huy động được các nguồn lực, nhất là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính nhằm tạo “cú hích” phá các “điểm nghẽn” cho phát triển trên cơ sở đảm bảo tính thị trường và công bằng giữa các chủ thể; trong đó, nguồn nội lực được xem là nền tảng. Ưu tiên các biện pháp hoàn thiện hạ tầng cảnh báo, chủ động thích ứng với BĐKH, trong đó, cần đảm bảo tính kết hợp giữa kiến thức khoa học, kỹ thuật hiện đại và kiến thức bản địa trong công tác thích ứng, nhất là lựa chọn nơi định cư phù hợp, đảm bảo an toàn.
Hai là, đảm bảo điều kiện để phát huy hiệu quả các giá trị dịch vụ hệ sinh thái của môi trường, nhất là phát triển hệ sinh thái rừng: Biên giới phía Bắc là khu vực có tính đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên, hình thành các nguồn vốn phát triển dựa vào các dịch vụ hệ sinh thái rừng - cơ sở đảm bảo tính ổn định, bền vững trước các tác động của yếu tố biến động, nhất là yếu tố tự nhiên như BĐKH. Do đó, để phát triển bền vững khu vực biên giới phía Bắc cần thiết phải có giải pháp nâng cao chất lượng hệ sinh thái rừng, đặc biệt là hệ sinh thái rừng tự nhiên. Thực hiện đầu tư phát triển rừng theo định hướng bền vững sẽ góp phần đạt được mục tiêu bảo vệ, phát triển bền vững lãnh thổ - nơi các hàng hóa, dịch vụ và sản phẩm có khả năng tái tạo cao và ngày càng có giá trị, qua đó nâng cao tính bền vững của hoạt động sống và hoạt động sinh kế của dân cư, nhất là hỗ trợ các ngành kinh tế chủ chốt, như: kinh tế nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp và các ngành sản xuất, dịch vụ dựa vào các giá trị cảnh quan thiên nhiên; góp phần tăng khả năng phục hồi trước BĐKH, bảo vệ bể chứa các-bon và đóng góp vào các chiến lược thích ứng với BĐKH.
Ba là, thực hiện các biện pháp phát triển theo tư duy “thuận thiên” chủ động thích ứng với BĐKH: Phát triển các mô hình kinh tế gắn với duy trì, phát triển bền vững rừng. Đẩy mạnh các mô hình kinh tế tuần hoàn có tính truyền thống kết hợp với áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng suất, hiệu suất của mỗi ha canh tác, đẩy mạnh các hoạt động chế biến sâu, hình thành chuỗi giá trị của từng loại sản phẩm hàng hóa để gia tăng giá trị và cải thiện thu nhập của người dân, đồng thời, nâng cao năng lực của lãnh thổ trong chủ động thích ứng với BĐKH. Mô hình kinh tế sinh thái điển hình: Vườn (cây trồng) - Ao (thủy sản) - Chuồng (chăn nuôi) - Rừng, mô hình kinh tế nông lâm kết hợp, phát triển theo hướng đa cây, đa con trên một đơn vị diện tích đất, sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các yếu tố thành phần góp phần cải tạo, bảo tồn tài nguyên nhiên nhiên, giảm chi phí sản xuất, cải thiện thu nhập.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh hợp tác với các địa phương liền kề biên giới trong khai thác, sử dụng lãnh thổ và chia sẻ các nguồn vốn tài nguyên. Phát huy hiệu quả các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, tập trung các nội dung chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, thích ứng với BĐKH.
(iii) Cần rà soát, điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn, định mức thiết kế, xây dựng các công trình hạ tầng, các khu định cư có tính đến các ảnh hưởng của BĐKH nhằm nâng cao chất lượng “chống đỡ” với diễn biến bất thường của các yếu tố khí hậu, nhất là các hiện tượng cực đoan của khí hậu.
Kết luận
Biến đổi khí hậu đang tác động đến mọi lãnh thổ và lĩnh vực, hoạt động đời sống, trở thành nhân tố quan trọng cần chủ động thích ứng trong các chiến lược phát triển. Khu vực biên giới phía Bắc với đặc trưng của điều kiện địa hình bị chia cắt, kết hợp với các mô hình phát triển kinh tế chưa phù hợp, trình độ phát triển còn hạn chế nên năng lực thích ứng với BĐKH còn thấp, tác động của BĐKH ngày càng nghiêm trọng, người dân và chính quyền đang phải “gồng mình” chống chọi. Do đó, để đảm bảo tính chủ động trong thích ứng với BĐKH của khu vực cần có những hành động mạnh mẽ trên cơ sở thực hiện tốt những giải pháp căn cơ với lộ trình phù hợp, ưu tiên các giải pháp phát triển theo hướng “thuận thiên”, phát huy tốt các giá trị dịch vụ hệ sinh thái, nhất là hệ sinh thái rừng để đảm bảo tính ổn định của lãnh thổ trong triển khai các mô hình phát triển theo hướng xanh, bền vững.
Theo Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. Số 9 - 2025 (tnttrang)