SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng một số dòng lúa thuần

[24/03/2026 22:02]

Trong bối cảnh chiến lược phát triển ngành trồng trọt, Bộ NN&PTNT (2020) định hướng khai thác linh hoạt diện tích đất trồng lúa nhằm bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Đến năm 2030, diện tích lúa khoảng 7,0 triệu ha với sản lượng 41,3 triệu tấn; đến năm 2040 còn khoảng 6,7–6,8 triệu ha, sản lượng khoảng 40,1 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Vùng sản xuất trọng điểm được nhấn mạnh là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Trong năm nhiệm vụ của Chiến lược, phát triển các giống lúa chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất (Bộ NN&PTNT, 2020).

 Ảnh minh họa

Gạo chất lượng cao được quyết định bởi nhiều yếu tố như hình dạng hạt, giá trị dinh dưỡng, hương thơm và chất lượng sau chế biến, trong đó hương thơm là đặc tính nổi bật (Sarkar & cs., 2021; Sanjeeva & cs., 2024). Mùi thơm trong lúa gạo chủ yếu liên quan đến 2AP (2-Acetyl-1-pyrroline), được kiểm soát bởi gen lặn fgr nằm trên nhiễm sắc thể số 8 (Li & cs., 2025). Tuy nhiên, khó khăn trong mở rộng diện tích giống lúa chất lượng cao là nguồn giống còn đơn điệu, năng suất chưa cao và khả năng chống chịu với một số sâu bệnh chủ yếu như rầy nâu, đạo ôn và bạc lá còn hạn chế (Nguyễn Trọng Khanh & cs., 2020). Vì vậy, việc thu thập, đánh giá, lai tạo và chọn lọc các dòng lúa thuần phù hợp đang được quan tâm nhằm tạo ra nguồn giống tốt cho sản xuất.

Nghiên cứu năm 2024 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Gia Lâm, Hà Nội) tập trung đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng, năng suất, chất lượng và xác định gen thơm của các dòng lúa thuần. Kết quả cho thấy các dòng có thời gian sinh trưởng ngắn (133–135 ngày vụ Xuân và 108–111 ngày vụ Mùa), cây thuộc dạng bán lùn, nhiễm nhẹ các bệnh đạo ôn và bạc lá, đồng thời có mức nhiễm rầy nâu thấp. Năng suất thực thu dao động từ 5,83–7,45 tấn/ha ở vụ Xuân và 4,78–6,37 tấn/ha ở vụ Mùa. Hạt gạo dài, dạng hạt thon dài; tỷ lệ gạo xát 67,9–70,6% và tỷ lệ gạo nguyên 79,8–89,9%. Chất lượng cơm ở mức khá, riêng dòng D2 có chất lượng cơm tương đương giống đối chứng Bắc thơm 7. Kết quả xác định cho thấy 4 dòng (D1, D2, D9, D10) mang gen thơm ở trạng thái đồng hợp tử lặn. Từ đó, nhóm đã chọn 4 dòng triển vọng (D1, D2, D3, D6) để tiếp tục đánh giá ở các vụ sau nhằm lựa chọn dòng ưu tú gửi khảo nghiệm quốc gia, góp phần bổ sung nguồn giống lúa thuần chất lượng cao cho Việt Nam.

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(11): 1415-1424 (ntdinh)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ