Ý thức, trách nhiệm khi sử dụng AI
Hiện nay, AI đang tạo ra những biến đổi lớn trong hệ thống giáo dục đại học. Với sự trợ giúp của các nền tảng AI như ChatGPT, Gemini..., sinh viên có thể chủ động tiếp cận kiến thức theo tốc độ và nhu cầu bản thân, không còn bị phụ thuộc vào lịch học cố định hay sự hiện diện vật lý tại giảng đường. Sinh viên cũng có thể xây dựng lịch trình linh hoạt, truy cập tài liệu học thuật theo thời gian thực và tương tác với nội dung học qua các định dạng đa phương tiện.

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. (Ảnh: THANH VŨ)
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Phúc, ứng dụng AI trong giáo dục Việt Nam không còn là xu hướng mà là yêu cầu tất yếu. Thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm đưa công nghệ vào thực tiễn giảng dạy. Cùng với đó, khung năng lực AI cho giáo viên và cán bộ quản lý được coi là tiêu chí bắt buộc trong chương trình bồi dưỡng nghề nghiệp cũng đang được xây dựng, triển khai.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thiện “Chiến lược trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2035”, với mục tiêu tất cả người học, giáo viên và cán bộ quản lý được bồi dưỡng năng lực AI; hình thành hệ sinh thái giáo dục thông minh tích hợp AI - nơi mỗi người học đều có “trợ lý học tập ảo” riêng, an toàn và nhân văn.
Trường đại học Công nghệ Giao thông vận tải đã nghiên cứu phát triển nền tảng thông minh dựa trên “tác nhân AI” hỗ trợ toàn diện cho sinh viên trong quá trình học tập; phát triển kỹ năng mềm, tư duy sáng tạo, cá nhân hóa học tập (gia sư AI); tích hợp AI để theo dõi tiến độ học tập; đánh giá năng lực sinh viên tự động…
Nghiên cứu của tác giả Hà Minh Tiếp (Trường đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy có tới 72,9% số sinh viên được khảo sát xác nhận từng sử dụng AI trong quá trình nghiên cứu học thuật; các mục đích sử dụng chủ yếu gồm: Hỗ trợ viết bài nghiên cứu (78,5%), kiểm tra chính tả-ngữ pháp (61,2%), tìm kiếm tài liệu tham khảo (47,6%) và đề xuất ý tưởng nghiên cứu (31,9%).
Thực tế cũng cho thấy, ứng dụng AI một cách rộng rãi, nếu thiếu định hướng giáo dục rõ ràng và thiếu kiểm soát đạo đức, có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đối với khả năng tư duy độc lập, tinh thần học tập chủ động và sự phát triển toàn diện của sinh viên. Trong nhiều trường hợp, sinh viên có xu hướng phụ thuộc vào công cụ AI để giải quyết các nhiệm vụ học tập thay vì tự mình tìm hiểu, phân tích và tổng hợp thông tin, dẫn đến suy giảm năng lực tư duy phản biện và sáng tạo của người học.
Các vấn đề như đạo văn, gian lận học thuật, hiểu lầm bản chất của tri thức... cũng gây lo ngại về tính công bằng và chất lượng giáo dục. Nghiên cứu của tác giả Hà Minh Tiếp cũng cho thấy trong số sinh viên được khảo sát chỉ có 21,3% cho biết, luôn kiểm tra tính chính xác và độ tin cậy của thông tin do AI cung cấp. Điều này cho thấy thói quen phụ thuộc vào AI và thiếu kiểm chứng thông tin đang là thực trạng phổ biến dẫn đến nguy cơ tái sử dụng thông tin sai lệch hoặc thiếu cơ sở học thuật. Cùng với đó, gần 64,7% số sinh viên được khảo sát thừa nhận hành vi sao chép cho thấy đang thiếu hướng dẫn về liêm chính học thuật và chuẩn mực trong sử dụng AI.
Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng khung pháp lý thống nhất nhằm điều chỉnh hoạt động học thuật trong môi trường số. Các cơ sở giáo dục đại học cần khẩn trương ban hành quy định rõ ràng về sử dụng AI trong nghiên cứu học thuật, đi kèm với các chương trình đào tạo đạo đức công nghệ và kỹ năng sử dụng AI có trách nhiệm; xây dựng cơ chế kiểm tra và giám sát việc tuân thủ đạo đức học thuật thông qua công cụ phát hiện nội dung tạo bởi AI.
Thạc sĩ Nguyễn Văn Hiếu (Khoa Khoa học liên ngành, Trường đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, các cơ sở đào tạo cần khuyến khích sinh viên tham gia phát triển các đề án khởi nghiệp có yếu tố AI, từ đó hình thành tư duy thực tiễn, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm hiệu quả; mở rộng sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo và tổ chức quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên hiện thực hóa ý tưởng.
Nhiều chuyên gia giáo dục, công nghệ cho rằng, các trường đại học và giảng viên cần chủ động tích hợp giáo dục đạo đức công nghệ và pháp lý về AI vào chương trình đào tạo chính thức; xây dựng cách đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát sinh viên sử dụng AI; phát triển cho sinh viên các năng lực tư duy phản biện và khả năng đánh giá nguồn thông tin do AI cung cấp gắn với ý thức trách nhiệm, đạo đức và pháp lý, thông qua hành vi trích dẫn, trình bày trung thực để sử dụng công cụ AI thật sự hiệu quả.
https://nhandan.vn/y-thuc-trach-nhiem-khi-su-dung-ai-post950651.html (hnyen)