Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu củ nghệ đen (Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe)
Nghiên cứu do các tác giả Nguyễn Thị Bích Thuyền, Nguyễn Văn Hiếu, Phạm Quốc Thịnh, Nguyễn Việt Nhẫn Hòa, Lê Đức Duy thực hiện nhằm khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu củ nghệ đen (Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe) góp phần vào dữ liệu nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học như hoạt tính chống oxy hóa và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu nghệ đen để nghệ đen có thể được ứng dụng và khai thác nhiều hơn.

Nghệ có tên khoa học là curcuma longa L. thuộc họ gừng, là loại cây thân rễ sống lâu năm có nguồn gốc ở Châu Á (Rezvanirad et al., 2016). Trong lĩnh vực thực phẩm, nghệ được sử dụng làm gia vị, tạo màu và bảo quản thức ăn (Jyotirmayee & Mahalik, 2022). Ngoài công dụng trong thực phẩm, nghệ còn được ứng dụng nhiều trong các sản phẩm mỹ phẩm như kem chống lão hóa, kem làm sáng da, kem trị mụn. Bên cạnh đó, củ nghệ còn được sử dụng nhiều trong dược phẩm điều trị bệnh viêm loét dạ dày, viêm tá tràng, thiếu máu và mụn nhọt. Củ nghệ còn được dùng trong các dạng thực phẩm chức năng như kẹo ngậm, viên uống và bột nghệ.
Tuy các sản phẩm từ nghệ rất phong phú nhưng phần lớn có thành phần chủ yếu là từ nghệ vàng, còn sản phẩm từ nghệ đen (curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe) thì còn hạn chế. Mặt khác, các nghiên cứu trong và ngoài nước trên củ nghệ đen cũng chưa nhiều. Cụ thể, tìm được 2 công bố trong nước trên tinh dầu như nghiên cứu của Tran et al. (2007) công bố về thành phần hóa học và hoạt tính kháng oxy hóa của tinh dầu nghệ đen trồng ở Đà Lạt. Menvilay et al. (2016) nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu nghệ đen ở Lào và Gia Lai - Việt Nam. Nghiên cứu ngoài nước tìm thấy công bố trên tinh dầu của nghệ đen ở tỉnh Sichuan-Trung Quốc (Lai et al., 2004), còn đa phần các nghiên cứu khác cũng công bố trên cao chiết và tinh dầu nghệ vàng. Vì vậy, nghiên cứu này góp phần vào dữ liệu nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học như hoạt tính chống oxy hóa và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu nghệ đen để nghệ đen có thể được ứng dụng và khai thác nhiều hơn.
Phương pháp nghiên cứu gồm:
Chưng cất tinh dầu: Củ nghệ đen tươi được thu hoạch vào tháng 12 năm 2023 tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, đem rửa sạch, để ráo và xay nhỏ (khoảng 1 mm). Trước tiên, 300g nguyên liệu tươi đã xay nhỏ được cho vào bình cầu 2000 mL, thêm 600 mL nước cất, tiến hành chưng cất trong 210 phút (là điều kiện chưng cất cho hiệu suất tinh dầu nghệ đen cao nhất trong nghiên cứu này). Sau đó, tinh dầu sau chưng cất được loại nước bằng Na2SO4 khan (99%, Xilong – Trung Quốc) và được dùng để làm các thí nghiệm tiếp theo.
Xác định các chỉ số hóa lý: Các chỉ số hóa lý được thực hiện theo Tiêu chuẩn Việt Nam, bao gồm: cảm quan theo TCVN 8460: 2010, tỉ trọng theo TCVN 8444:2010 và chỉ số khúc xạ theo TCVN 8445: 2010 (Nguyen et al., 2023).
Xác định thành phần hóa học: Thành phần hóa học được xác định bằng kỹ thuật sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS (Thermo Fisher Scientific) dùng cột TG-SQC, 15m x 0,25mm x 0,25μm, khí mang Helium, tốc độ dòng 0,8 mL/ phút, chế độ ion hóa EI, vùng khối phổ 35400 amu, nhiệt độ 240oC và thể tích tiêm là 1µL.
Tinh dầu sau khi làm khan được xác định các chỉ số hóa – lý, thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Kết quả phân tích bằng GC – MS cho thấy thành phần hóa học chính trong tinh dầu củ nghệ đen là eucalyptol (51,83%), a-pinasinsen (25,24%), L-camphor (12,46%), b-elemene (5,85%) và b-pinene (4,62%).
Qua thời gian nghiên cứu, kết quả thử hoạt tính kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH cho biết tinh dầu củ nghệ đen có khả năng kháng gốc tự do với giá trị IC50 = 289,369 ± 0,003 µg/mL. Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật bằng phương pháp khuếch tán đĩa giấy thể hiện hoạt tính kháng tốt của tinh dầu đối với các chủng vi khuẩn như Bacillus cereus ATCC® 10876TM, Listeria innocua ATCC® 33090TM, Escherichia coli ATCC® 25922TM, Staphylococcus aureus ATCC® 25923TM và nấm Candida Albicans HS1.
Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, Tập 61, Số 2A (2025) (nthang)