Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ocop của chủ thể hợp tác xã tại tỉnh Lai Châu
OCOP “mỗi xã phường một sản phẩm” là một trong những chương trình phát triển nông thôn trọng tâm, hướng vào việc tổ chức sản xuất và nâng tầm giá trị các sản phẩm đặc trưng của từng địa phương.
Chương trình có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế–xã hội, góp phần tạo việc làm, thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững và gia tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp. Đặc biệt, chương trình ưu tiên và khuyến khích hợp tác xã (HTX) tham gia, bởi thực tế cho thấy HTX khi tham gia OCOP có thể đạt được những kết quả tích cực và bền vững.
.jpg)
Ảnh minh họa
Lai Châu là tỉnh miền núi có tiềm năng sản xuất nông nghiệp và trong những năm qua, số lượng HTX nông nghiệp trên địa bàn phát triển nhanh. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu (2023), toàn tỉnh có 174 HTX thuộc lĩnh vực nông nghiệp (trong tổng số 416 HTX) tính đến hết năm 2023. Hiện các HTX đã tham gia OCOP và bước đầu đạt được kết quả; tuy nhiên, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm OCOP vẫn còn một số tồn tại, đáng chú ý như có HTX ngừng tham gia/không tiếp tục đăng ký lại sau thời gian hiệu lực vào giai đoạn 2021–2024.
Nghiên cứu phản ánh thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm OCOP của các chủ thể là HTX tại Lai Châu. Kết quả cho thấy HTX có số lượng sản phẩm nhiều nhất so với các chủ thể khác và sản phẩm chủ yếu thuộc nhóm thực phẩm. Các sản phẩm OCOP của HTX được đánh giá dựa trên tiêu chí về tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm, khả năng tiếp thị và chất lượng; trong các năm gần đây, toàn bộ sản phẩm đều đạt xếp hạng 3 sao. Dù đã ghi nhận một số chuyển biến tích cực, vẫn tồn tại các hạn chế như tính ổn định của nguyên liệu đầu vào chưa cao; sản phẩm chế biến chưa đa dạng và khối lượng còn thấp; thiếu tính độc đáo; còn thiếu truy xuất nguồn gốc; liên kết tiêu thụ hạn chế; ứng dụng công nghệ số và khả năng nâng hạng lên 4 sao còn yếu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm OCOP của HTX trong thời gian tới.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(11): 1477-1486 (ntdinh)