Yếu tố ảnh hưởng hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng xanh của các hộ nuôi trồng thủy sản tại xã Hải Châu, tỉnh Nam Định
Hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng xanh được hiểu là cách tích hợp các mục tiêu bền vững môi trường vào toàn bộ quá trình từ thiết kế sản phẩm, lựa chọn nguyên liệu, tổ chức nuôi trồng–sản xuất, vận chuyển, phân phối đến tái chế và xử lý chất thải.
Khác với chuỗi cung ứng truyền thống chủ yếu đặt trọng tâm vào chi phí và chất lượng, chuỗi cung ứng xanh nhấn mạnh sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và đề cao trách nhiệm xã hội. Trong bối cảnh đó, “chuỗi cung ứng xanh thủy sản” (GFSC) cho khu vực nuôi trồng thủy sản tại Nam Định được triển khai theo hướng thân thiện môi trường, bao gồm chọn con giống và thức ăn đảm bảo an toàn sinh thái, áp dụng kỹ thuật nuôi hạn chế hóa chất và giảm ô nhiễm, đồng thời quản lý khâu bảo quản–chế biến–vận chuyển để giảm tổn thất và phát thải, cùng với xử lý, tái sử dụng phụ phẩm, chất thải sau nuôi trồng.

Ảnh minh họa
Trên cơ sở các quan điểm và chiến lược phát triển bền vững, nghiên cứu này tiếp cận những yếu tố tác động đến việc triển khai chuỗi cung ứng xanh trong nuôi trồng thủy sản, đồng thời chỉ ra khoảng trống so với các công trình trước đây khi còn thiếu dữ liệu đánh giá cụ thể về hiệu quả tại quy mô nông hộ. Dù chuỗi cung ứng xanh đã được quan tâm, nhưng ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt động trong nuôi trồng thủy sản của nông hộ vẫn mới mẻ, chưa được đo lường đầy đủ và ghi nhận rành mạch. Vì vậy, nghiên cứu hướng đến việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng xanh của nông hộ nuôi trồng thủy sản tại xã Hải Châu, tỉnh Nam Định—một địa bàn có vai trò quan trọng trong tạo nguồn thu cho kinh tế địa phương nhưng còn tồn tại hạn chế trong vận hành theo hướng xanh.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát 165 mẫu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sau đó dùng phân tích hồi quy để xác định mức độ tác động của các yếu tố. Kết quả cho thấy hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng xanh chịu tác động bởi 7 yếu tố, trong đó nổi bật là 3 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất gồm tài chính, công nghệ và môi trường. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp đồng bộ: (1) nâng cao nhận thức và năng lực thông qua tuyên truyền, tập huấn về sản xuất thân thiện môi trường, truy xuất nguồn gốc và quy trình nuôi–bảo quản–chế biến đạt chuẩn; (2) đẩy mạnh ứng dụng công nghệ phù hợp như thiết bị quan trắc môi trường, phần mềm quản lý và kỹ thuật nuôi sinh học để tăng năng suất, chất lượng; (3) mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi, khuyến khích liên kết theo tổ nhóm/hợp tác xã nhằm hỗ trợ tài chính. Đồng thời, chính quyền địa phương cần hoàn thiện chính sách theo hướng rõ ràng, minh bạch và có cơ chế khuyến khích mô hình chuỗi cung ứng xanh, qua đó góp phần phát triển bền vững và nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho nông hộ.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(11): 1466-1476 (ntdinh)