SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đánh giá rủi ro sinh thái một số kim loại trong trầm tích tại khu vực ven biển Thành phố Hải Phòng

[26/03/2026 21:54]

Trầm tích biển là các vật liệu rắn có nguồn gốc từ lục địa hoặc từ sinh vật biển, được tích tụ và lắng đọng xuống đáy biển dưới tác động đồng thời của các quá trình vật lý, hóa học và sinh học.

. Thành phần trầm tích khá đa dạng, bao gồm khoáng vật, mảnh vụn hữu cơ và sản phẩm phân hủy sinh học, hạt bụi từ khí quyển, cùng các chất kết tủa hóa học từ nước biển. Với đặc trưng thạch học, bột và sét thường chiếm khoảng 80%–90%, phần còn lại là cát hạt nhỏ, vụn cơ học và mùn hữu cơ; về hóa học, trầm tích chủ yếu chứa các hợp chất như SiO, AlO, FeO và hàm lượng nhỏ các nguyên tố kim loại (Cu, Zn, Cd, As, Pb, Hg, Cr, Sb, Mn); về khoáng vật, nổi bật là sét, silic oxit, chất hữu cơ, cacbonat và mảnh vụn đá kèm quần thể vi khuẩn. Không chỉ đóng vai trò “nơi chứa” vật chất địa chất, trầm tích biển còn tham gia trực tiếp vào cấu trúc – chức năng hệ sinh thái, là nơi cư trú của sinh vật đáy, góp phần lưu giữ và phân phối dinh dưỡng, đồng thời điều hòa chu trình carbon (Trần Nghi, 2003).

Trong môi trường trầm tích, kim loại tồn tại theo nhiều dạng gắn kết khác nhau, phản ánh mức độ bền vững và khả năng gây độc của chúng. Các dạng phổ biến gồm: dạng trao đổi; dạng liên kết với cacbonat; dạng liên kết với chất hữu cơ; dạng liên kết với oxit Fe–Mn; và phần cặn dư. Đa số kim loại thường tập trung ở cặn dư, liên kết bền với trầm tích nên ít phát tác động tức thời; ngược lại, một tỉ lệ nhỏ ở dạng trao đổi hoặc liên kết với cacbonat có xu hướng dễ được giải phóng hơn, làm tăng nguy cơ độc hại đối với hệ sinh thái nước và có thể lan truyền theo chuỗi thức ăn ra hệ sinh thái trên cạn. Vì vậy, việc đánh giá mức độ ô nhiễm và rủi ro kim loại nặng trong trầm tích là nội dung quan trọng, cần được quan tâm đồng thời bởi nhà khoa học và cơ quan quản lý (Trịnh Thị Thủy và cộng sự, 2023).

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã tập trung đánh giá kim loại nặng trong trầm tích và nước ở các khu vực chịu tác động rõ rệt từ hoạt động con người. Tại Trung Quốc, các tác giả đã khảo sát ô nhiễm tại một số con sông lớn như Hoàng Hà, Châu Giang và Dương Tử; theo nghiên cứu của Xupeng Hu và cộng sự (2024) giai đoạn 2011–2024, tại cửa sông Dương Tử nhìn chung Pb, Cd và Zn không tạo ra rủi ro sinh thái bất lợi, trong khi Cu và As có thể gây rủi ro sinh thái tiềm ẩn. Ở Việt Nam, nghiên cứu thường tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long (Wilbers GJ và cộng sự, 2014), sông Hồng (Hien NTT và cộng sự, 2016), rừng ngập mặn Cần Giờ (Nguyen TN và cộng sự, 2019) và một số vùng ven biển miền Nam (Costa-Böddeker S và cộng sự, 2017); riêng với Vịnh Hạ Long, Hoài Nhơn, cộng sự (2020) phân tích 48 mẫu trầm tích bề mặt và ghi nhận Cu, Pb và As vượt ngưỡng ISQG ở một số vị trí gần bờ, còn ngoài khơi nhìn chung thấp hơn. Bên cạnh đó, Trịnh Thị Thắm và cộng sự (2022) đánh giá Cu, Pb, Cd và Cr trong 20 mẫu trầm tích hạ lưu sông Hồng và cho thấy nhìn chung thấp hơn giới hạn theo QCVN 43:2017/BTNMT, dù có một số giá trị vượt mức thấp nhất theo hướng dẫn chất lượng trầm tích của Ontario (Canada, 1993) nhằm phản ánh khả năng tích lũy và rủi ro tiềm tàng. Trong bối cảnh đó, TP. Hải Phòng thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, nằm ở đồng bằng sông Hồng (khoảng 20°30').

Ảnh minh họa

Ô nhiễm kim loại trong môi trường là vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt ở vùng cửa sông–ven biển—nơi nhận đồng thời nhiều dòng thải từ thượng nguồn. Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời sở hữu hệ thống cảng biển lớn nhất khu vực miền Bắc, vì vậy các hoạt động phát triển kinh tế ven biển đang tạo sức ép đáng kể lên môi trường. Trong nghiên cứu, nhóm đã tiến hành lấy mẫu trầm tích tại một số khu vực ven biển TP. Hải Phòng vào đầu năm 2025 để đánh giá mức độ tích lũy kim loại nặng và rủi ro của chúng đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người. Kết quả cho thấy Cd tại khu vực Đồ Sơn cao hơn các khu vực còn lại và vượt giá trị giới hạn chất lượng trầm tích theo QCVN 43:2017/BTNMT từ 4,7 đến 21,8 lần; các kim loại còn lại nhìn chung có hàm lượng thấp hơn ngưỡng cho phép. Về mặt rủi ro sinh thái, từng kim loại cho thấy mức độ rủi ro thấp đến trung bình (ngoại trừ Cd tại Đồ Sơn), song hệ số rủi ro tổng (RQ tổng) các kim loại phản ánh mức rủi ro sinh thái cao hơn trong phạm vi khu vực nghiên cứu.

Tạp chí Môi trường, chuyên đề số II/2025 (dtnkhanh)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ