Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mật độ nuôi vỗ và phương pháp ấp trứng lên năng suất sinh sản tôm càng sông (Macrobrachium nipponense, de Haan 1849)
Tôm càng sông Macrobrachium nipponense (de Haan, 1849) là loài giáp xác nước ngọt có giá trị kinh tế và tiềm năng phát triển trong nuôi trồng thủy sản nội địa.
Thực tế cho thấy tôm càng sông sinh trưởng và phân bố rộng trong nhiều thủy vực nước nội địa, đồng thời nhu cầu về con giống ngày càng lớn. Vì vậy, việc hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống, đặc biệt là khâu nuôi vỗ tôm bố mẹ và quy trình ấp trứng, có ý nghĩa thiết thực đối với nghề nuôi tôm càng sông và góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi ở quy mô nông hộ.

Ảnh minh họa
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mật độ nuôi vỗ và phương pháp ấp trứng phù hợp trong sản xuất giống tôm càng sông. Thí nghiệm tiến hành nuôi vỗ tôm bố mẹ ở các mật độ 50; 100 và 150 con/m² trong bể, sử dụng thức ăn công nghiệp dành cho tôm thẻ chân trắng (protein 40%, lipid 7%). Kết quả cho thấy mật độ nuôi vỗ 50 con/m² cho tỷ lệ sống 71,0% và tỷ lệ thành thục 79,1%, cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với các mật độ 100 và 150 con/m².
Đối với phương pháp ấp trứng, tôm cái đang ôm trứng vào ngày thứ 9–10 được lựa chọn để thử nghiệm hai hình thức: ấp tự nhiên (tôm cái ôm trứng) và ấp nhân tạo (tách trứng ra khỏi tôm cái để ấp). Theo dõi trong 9 ngày cho thấy ở khoảng nhiệt độ 24,5–26,5°C, ấp tự nhiên đạt tỷ lệ nở 80,4% cao hơn ấp nhân tạo (71,8%); tuy nhiên, ấp nhân tạo lại có ưu thế trong kiểm soát môi trường, thuận lợi cho sản xuất quy mô lớn. Nhờ đó, nghiên cứu cung cấp cơ sở kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả công tác sản xuất giống tôm càng sông.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(10): 1285-1291 (ntdinh)