SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Đánh giá thực trạng và đề xuất khung chương trình bồi dưỡng tuyên truyền chủ quyền biển đảo cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên trong bối cảnh truyền thông số

[28/03/2026 14:44]

Biển, đảo Việt Nam là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của Tổ quốc, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng - an ninh. Tuy nhiên, trong bối cảnh địa chính trị hiện nay, tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp với sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn và các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế ngày càng tinh vi. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đã mở rộng không gian đấu tranh bảo vệ chủ quyền từ thực địa sang không gian mạng, đặt ra thách thức lớn về việc bảo vệ chủ quyền số quốc gia.

Trong bối cảnh đó, các văn bản như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; Quyết định số 930/QĐ-TTg và Quyết định số 729/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đều xác định đội ngũ phóng viên, biên tập viên (PV, BTV) là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò tiên phong trong việc định hướng dư luận và phản bác các luận điệu xuyên tạc [4]. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội làm công cụ lan truyền tin giả, quan điểm sai trái hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước [5]. Điều này đòi hỏi người làm báo không chỉ vững vàng về bản lĩnh chính trị mà còn phải thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp trong bối cảnh mới. Thực tiễn cho thấy, công tác tuyên truyền biển đảo hiện nay đang đứng trước áp lực chuyển đổi số mạnh mẽ. Xu hướng báo chí thế giới năm 2025 đang chuyển dịch sang báo chí dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng cao hiệu quả thông tin [6, 7]. Tuy nhiên, các chương trình đào tạo hiện có cho PV, BTV về biển đảo thường thiếu vắng các nội dung về kỹ năng số và công nghệ hiện đại, chưa có một khung chương trình chuẩn hóa cấp quốc gia [8]. Nếu không kịp thời lấp đầy khoảng trống này, báo chí chính thống sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh thông tin và giữ vững trận địa tư tưởng.

Dữ liệu khảo sát cho thấy một ưu điểm nổi bật của đội ngũ phóng viên, biên tập viên là sự vững vàng về nhận thức chính trị về các vấn đề liên quan đến biển đảo. Cụ thể, tỷ lệ nhân sự tự đánh giá mức độ hiểu biết “Rất tốt” về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đối với tuyên truyền chủ quyền biển đảo đạt 81,3%. Kết quả này phản ánh hiệu quả của công tác quán triệt tư tưởng và phổ biến chính sách tại các cơ quan báo chí, truyền thông trong thời gian qua. Đội ngũ người làm báo thể hiện sự nắm bắt chắc chắn các định hướng chiến lược, đảm bảo tính chính thống và nhất quán trong việc truyền tải thông điệp về bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng để duy trì sự ổn định thông tin và định hướng dư luận xã hội đúng đắn.

Tuy nhiên, khi so sánh tương quan giữa nhận thức chính trị và nhận thức về nghiệp vụ chuyên biệt, số liệu cho thấy sự chênh lệch đáng lưu ý (bảng 2). Trong khi nhận thức về đường lối đạt mức cao, thì tỷ lệ nhân sự tự đánh giá hiểu biết “Rất tốt” về vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong quá trình tuyên truyền chủ quyền biển đảo lại thấp hơn, đạt 60,4%. Đây là chỉ số thấp nhất trong 5 nhóm nội dung được khảo sát. Sự khác biệt này gợi mở rằng, mặc dù đội ngũ phóng viên, biên tập viên nắm vững nội dung cần tuyên truyền, nhưng nhận thức về phương thức và vị thế của báo chí như một công cụ tác động đặc thù trong công tác này vẫn còn dư địa để cải thiện. Điều này đặt ra yêu cầu cần tăng cường bồi dưỡng về kỹ năng và tư duy nghiệp vụ báo chí hiện đại, giúp người làm báo chuyển hóa hiệu quả các văn bản chính trị thành các sản phẩm truyền thông có sức thuyết phục cao.

Dựa trên việc hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo và khảo sát thực tiễn tổ chức đào tạo, nghiên cứu phân loại các chương trình hiện hành thành ba mô hình chính với những đặc điểm như sau:

Thứ nhất là mô hình tập huấn theo chuyên đề của cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai là hoạt động đào tạo nội bộ và thực tế tại các cơ quan báo chí.

Nhìn nhận một cách khách quan, trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay, đặc biệt sau khi có Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, công tác này đã có những bước chuyển biến đáng ghi nhận về cả quy mô tổ chức lẫn định hướng nội dung. Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trong kỷ nguyên số và thực tiễn tác nghiệp báo chí hiện đại, công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay đang bộc lộ những khoảng trống mang tính hệ thống cần được nhận diện và khắc phục.

Về quy mô đào tạo, kết quả khảo sát cho thấy có tới 52,1% phóng viên, biên tập viên được hỏi cho biết họ chưa từng tham gia bất kỳ lớp bồi dưỡng chuyên sâu nào về tuyên truyền biển đảo. Trong khi cả nước hiện có hơn 800 cơ quan báo chí với hàng chục nghìn nhân sự được cấp thẻ nhà báo, các lớp tập huấn hàng năm thường chỉ đáp ứng được quy mô từ 60-100 học viên/lớp và tập trung chủ yếu ở các cơ quan báo chí chủ lực hoặc địa phương ven biển. Sự thiếu hụt cơ hội tiếp cận đào tạo chính quy này dẫn đến tình trạng một bộ phận lớn phóng viên phải tự mày mò, tác nghiệp dựa trên kinh nghiệm cá nhân, thiếu sự thống nhất về phương pháp luận và dễ gặp rủi ro khi xử lý các thông tin nhạy cảm liên quan đến chủ quyền quốc gia và quan hệ quốc tế.

Việc xây dựng khung chương trình bồi dưỡng mới chỉ là bước khởi đầu. Để đưa khung chương trình này vào thực tiễn và phát huy hiệu quả tối đa, cần có sự đồng bộ về cơ chế, chính sách và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị cụ thể như sau:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Thứ nhất, cần thiết lập cơ chế cung cấp thông tin nguồn nhanh chóng và chính thống. Thứ hai, cần xây dựng và chia sẻ kho dữ liệu số dùng chung về biển đảo. Thứ ba, cần có chính sách đặt hàng và hỗ trợ kinh phí đặc thù.

Đối với các cơ quan báo chí: Về chiến lược nhân sự, các tòa soạn cần quy hoạch và chuyên biệt hóa đội ngũ phóng viên biển đảo.  Về hạ tầng kỹ thuật, cần đầu tư đồng bộ công nghệ làm báo hiện đại. Về hoạt động thực tiễn, cần chủ động tăng cường các chuyến đi thực tế.

Đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng

Về đội ngũ giảng viên, không nên chỉ giới hạn là các giảng viên cơ hữu trong trường, mà cần mời các chuyên gia từ lực lượng cảnh sát biển, hải quân, kiểm ngư và các nhà báo kỳ cựu có kinh nghiệm tác nghiệp tại các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa tham gia giảng dạy.

Về phương thức đào tạo, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Đối với nội dung về biển đảo, việc hình dung không gian địa lý là rất quan trọng.

Đồng thời, cần thiết lập hệ thống đánh giá sau đào tạo. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở bài thu hoạch cuối khóa, mà cần theo dõi hiệu quả ứng dụng kiến thức của học viên sau khi trở về đơn vị (thông qua số lượng, chất lượng tác phẩm về biển đảo được đăng tải).

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ và những diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị trên Biển Đông, công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo đang đối mặt với những thách thức phi truyền thống, đòi hỏi sự đổi mới căn bản về phương thức và năng lực thực hiện. Nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng năng lực và nhu cầu đào tạo của đội ngũ phóng viên, biên tập viên trong việc định hướng dư luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Thông qua phương pháp khảo sát xã hội học và phân tích dữ liệu thực chứng, kết quả nghiên cứu chỉ ra một khoảng trống đáng kể trong công tác bồi dưỡng hiện nay. Trong khi nhận thức chính trị của đội ngũ làm báo đạt mức cao thì năng lực tác nghiệp trên nền tảng số và cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo chuyên sâu lại hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất khung chương trình bồi dưỡng theo hướng tiếp cận năng lực, tích hợp giữa tri thức pháp lý quốc tế (UNCLOS 1982), tư duy phản biện và kỹ năng báo chí dữ liệu. Đồng thời, nghiên cứu kiến nghị các giải pháp chính sách nhằm kiến tạo hệ sinh thái dữ liệu số dùng chung, góp phần chuẩn hóa và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền chủ quyền quốc gia trong kỷ nguyên thông tin.

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2025 (ntqnhu)

Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ