SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Nhìn lại hợp tác Việt Nam - UNESCO trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên

[28/03/2026 14:47]

Khoa học và công nghệ ngày càng được khẳng định là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, ngoại giao khoa học đã và đang được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ quan trọng để vừa tranh thủ nguồn lực cho phát triển, vừa tham gia định hình luật chơi và chuẩn mực quốc tế.

Khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng được khẳng định là động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và bảo đảm phát triển bền vững trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Tại Việt Nam, khoa học-công nghệ-đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được đặt vào vị trí “đột phá chiến lược” trong định hướng chính sách cấp cao, vừa như động lực tăng trưởng vừa như nền tảng năng lực cạnh tranh quốc gia. Cụ thể, Nghị quyết số 57- NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác lập yêu cầu “quyết sách mạnh mẽ” để tạo xung lực mới cho KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới các mốc 2030 và 2045. Mặt khác, rủi ro xuyên biên giới (biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, an ninh nguồn nước, quản trị đại dương…) ngày càng đòi hỏi Việt Nam vừa “làm khoa học”, vừa “điều phối và thương lượng” trong các thiết chế đa phương. Trong bối cảnh đó, ngoại giao khoa học nổi lên như một công cụ chiến lược, giúp các quốc gia vừa huy động nguồn lực quốc tế, vừa tham gia định hình các chuẩn mực và cấu trúc quản trị toàn cầu. Trải qua 50 năm hình thành và phát triển quan hệ, hợp tác Việt Nam - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO), đặc biệt trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đã ghi dấu ấn rõ nét cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cho thấy sự vận dụng ngày càng hiệu quả ngoại giao khoa học phục vụ mục tiêu phát triển đất nước.

Trong khuôn khổ nội dung bài nghiên cứu, người viết hướng tới làm rõ một số vấn đề về: ngoại giao Khoa học trong khuôn khổ UNESCO và thực tế hợp tác Việt Nam -UNESCO về khoa học tự nhiên diễn ra như thế nào dưới góc độ của ngoại giao khoa học? Với từng chương trình hợp tác, UNESCO đã “mở” cho Việt Nam những nguồn lực, mạng lưới, cơ chế đào tạo và chuẩn mực quản trị nào; nâng vị thế/uy tín và năng lực dẫn dắt của Việt Nam đến mức nào, và điều kiện thể chế hóa để bền vững là gì? Còn những khoảng trống nào trong hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO trong lĩnh vực khoa học tự nhiên? Từ đó người viết đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác.

Những kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam gần đây, đặc biệt là Đại hội XIII và Đại hội XIV đều nhấn mạnh “khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng kinh tế”, yêu cầu xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghệ cao. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục khẳng định đây là quốc sách hàng đầu, là động lực tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh mới. Đồng thời, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu hội nhập “chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, hiệu quả” trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có KH&CN, coi việc tham gia các cơ chế, tổ chức đa phương liên quan là kênh quan trọng để tranh thủ tri thức, nguồn lực và công nghệ phục vụ phát triển đất nước. Những điều này cho thấy nhu cầu hợp tác phát triển khoa học đang là mục tiêu xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là “ba tầng giá trị”: (1) “Tầng năng lực”: MAB/IHP/IOC đều cung cấp chuẩn mực và mạng lưới để phát triển năng lực, từ quản trị khu dự trữ sinh quyển (MAB) đến quản trị nước (IHP) và năng lực dữ liệuđào tạo-quy hoạch biển (IOC/OTGA). (2) “Tầng quản trị dựa trên tri thức”: cơ chế rà soát định kỳ 10 năm (MAB) và định hướng quản trị nguồn nước dựa trên cơ sở khoa học (science-based water governance) (IHP) là các cấu phần thể chế giúp “đóng gói” tri thức thành yêu cầu quản trị và đối thoại hợp tác. (3) “Tầng uy tín và vị thế”: các hoạt động công nhận/ghi danh và giữ vai trò đăng cai/điều phối một số hội nghị của UNESCO tạo “tài sản danh tiếng” phục vụ đối ngoại đa phương của Việt Nam.

Trên thực tế, quan hệ Việt Nam-UNESCO là trụ cột của đối ngoại đa phương Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thách thức phát triển bền vững và biến đổi khí hậu (như nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn), nhu cầu bắt kịp xu thế phát triển mới về khoa học và yêu cầu hoàn thiện chính sách theo chuẩn mực UNESCO, quá trình hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO trong khoa học tự nhiên vẫn tồn tại ở những khoảng trống chính sách cần được nhìn nhận một cách thực chất để giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững. Dựa trên phân tích và ý kiến chuyên gia, có thể đưa ra một số vấn đề chính như sau:

(1) Chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp nhằm bảo đảm tính bền vững của các mô hình hợp tác và danh hiệu UNESCO; (2) Năng lực khoa học-công nghệ nội tại của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập sâu; (3) Chưa phát huy tối đa vai trò của Việt Nam tại UNESCO; (4) Chưa gắn kết chặt chẽ hợp tác UNESCO với chiến lược quốc gia

Dù hợp tác Việt Nam-UNESCO trong khoa học tự nhiên đã đạt được nhiều tiến bộ, vẫn còn những khoảng trống về chính sách cần san lấp. Khoảng trống từ cấp chiến lược (liên kết chương trình UNESCO với mục tiêu quốc gia) cho đến cấp thực thi (năng lực tới khoa học, cơ chế điều phối và giám sát các dự án). Để giải quyết các vấn đề nêu trên, giúp quan hệ Việt Nam-UNESCO trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đi sâu vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất hơn trong tương lai, Việt Nam cần lưu ý một số vấn đề và có giải pháp kịp thời:

(1) Bảo đảm tính bền vững của các mô hình hợp tác; (2) Nâng cao năng lực nghiên cứu và quản lý khoa học; (3) Thích ứng với các ưu tiên mới của UNESCO; (4) Phát huy vai trò cầu nối và dẫn dắt tại UNESCO;  (5) Thúc đẩy gắn kết giữa hợp tác UNESCO với chiến lược phát triển quốc gia; (6) Chủ động xây dựng và triển khai chính sách ngoại giao KH&CN, trong đó UNESCO là một kênh trọng điểm.

Khoa học và công nghệ ngày càng được khẳng định là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, ngoại giao khoa học đã và đang được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ quan trọng để vừa tranh thủ nguồn lực cho phát triển, vừa tham gia định hình luật chơi và chuẩn mực quốc tế. Sau 50 năm hình thành và phát triển quan hệ, sự hợp tác giữa Việt Nam với UNESCO trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực khoa học tự nhiên đang là một điểm sáng, góp phần đóng góp vào các mục tiêu phát triển của Việt Nam và sứ mệnh của UNESCO. Trên nền tảng hợp tác đó, sự tham gia sâu rộng của Việt Nam vào các chương trình của UNESCO như Sáng kiến Con người và Sinh quyển (MAB), Ủy ban Hải dương học Liên chính phủ (IOC) và Chương trình Thủy văn Quốc tế (IHP) là những minh chứng cụ thể và sống động cho mục tiêu lấy ngoại giao khoa học phục vụ sự phát triển của đất nước trong thời đại mới. Tác giả mong muốn trên cơ sở lý luận về ngoại giao khoa học trong khuôn khổ của UNESCO nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO về khoa học tự nhiên; làm rõ một số khoảng trống chính sách cản trở quá trình hợp tác này; và khuyến nghị một số chính sách đối với Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả hợp tác giữa Việt Nam-UNESCO về khoa học tự nhiên.

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2025 (ntqnhu)

 

 

Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ