84 nhiệm vụ khoa học tạo 31 tiến bộ kỹ thuật cho ngành chăn nuôi - thú y
Giai đoạn 2021-2025, thông qua các đề tài nghiên cứu, các nhà khoa học đã chọn tạo và giới thiệu vào sản xuất nhiều dòng, giống vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao.
KHCN tạo bước chuyển mạnh mẽ cho ngành chăn nuôi - thú y
Phát biểu tại Hội nghị Khoa học, Công nghệ (KHCN) về Chăn nuôi và Thú y toàn quốc, Vụ trưởng Vụ KHCN Nguyễn Văn Long khẳng định: Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam, từ thiếu hụt sang chủ động nguồn cung, từng bước tham gia thị trường xuất khẩu. Thành tựu này gắn liền với vai trò then chốt của KHCN đặc biệt trong nghiên cứu giống, dinh dưỡng, thú y và công nghệ môi trường.

Vụ trưởng Nguyễn Văn Long khẳng định: Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam. Ảnh: Tùng Đinh.
Đáng chú ý, hệ thống thể chế ngày càng hoàn thiện với các luật chuyên ngành và hàng loạt chính sách lớn như Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2030, Đề án đẩy mạnh KHCN ngành chăn nuôi và các nghị định hỗ trợ đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ, định hướng ngành phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững.
Trong 5 năm qua, ngành đã triển khai 84 nhiệm vụ KHCN trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y với tổng kinh phí hơn 226 tỷ đồng, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, qua đó từng bước hình thành hệ sinh thái nghiên cứu gắn với thực tiễn sản xuất.
Kết quả đạt được cho thấy năng lực nghiên cứu được nâng lên rõ rệt cả về quy mô và chất lượng. Toàn ngành đã có 31 tiến bộ kỹ thuật được công nhận, đồng thời công bố gần 795 công trình khoa học, gồm 317 bài báo quốc tế và 478 bài trong nước.
“Không chỉ dừng ở số lượng, các nghiên cứu đã tạo nền tảng cho sản xuất thực tiễn, góp phần cải thiện năng suất, giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi Việt Nam”, ông Long đánh giá.
Nhiều thành tựu đột phá từ giống, thức ăn đến vaccine
Trong lĩnh vực chọn tạo giống, các công nghệ sinh học hiện đại như thụ tinh trong ống nghiệm, cấy truyền phôi, phân tích gen và chọn lọc di truyền đã được làm chủ, mở ra hướng phát triển các giống vật nuôi có năng suất cao, thích ứng tốt với dịch bệnh và biến đổi khí hậu.
Nhiều giống gia súc, gia cầm thế mạnh được cải tiến cao; một số sản phẩm vật nuôi đã đạt năng suất khoảng 90-95% mức thế giới. Đặc biệt, 47 giống vật nuôi mới đã được công nhận, nâng tổng số giống năng suất cao lên 59 giống. Nhờ đó, ngành chăn nuôi đã chuyển từ thiếu hụt sang cơ bản đáp ứng đủ và thừa nhu cầu thực phẩm nội địa.

Quy trình vắt sữa khép kín tại trang trại bò sữa Anova Agri giúp kiểm soát vệ sinh và phòng dịch hiệu quả. Ảnh: Trần Phi.
Ở lĩnh vực dinh dưỡng, việc xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần và giá trị dinh dưỡng của nhiều loại nguyên liệu đã giúp tối ưu khẩu phần ăn, qua đó giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Lĩnh vực thú y tiếp tục ghi nhận những bước tiến quan trọng, đặc biệt trong nghiên cứu và sản xuất vaccine. Các quy trình sản xuất vaccine tái tổ hợp, vaccine vô hoạt và đa giá đã được làm chủ, với một số sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, có thể thay thế vaccine nhập khẩu. Năm 2025, việc sản xuất thành công vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà đã góp phần giảm chi phí và nâng cao hiệu quả phòng bệnh.
Bên cạnh đó, công nghệ xử lý môi trường và chuồng trại có bước phát triển rõ nét, với nhiều mô hình xử lý chất thải và ứng dụng chế phẩm sinh học được triển khai rộng rãi. Hiện có trên 96% trang trại áp dụng các biện pháp xử lý môi trường.
Các giải pháp tự động hóa, chuyển đổi số trong quản lý trang trại, giám sát vật nuôi và truy xuất nguồn gốc cũng được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng hội nhập.
Những đóng góp của khoa học công nghệ đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng uy tín, trong đó có 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 3 Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y.
Làm chủ công nghệ lõi, hướng tới xuất khẩu
Bên cạnh những kết quả đạt được, theo ông Nguyễn Văn Long, ngành chăn nuôi và thú y vẫn còn không ít hạn chế như chất lượng giống chưa đồng đều, thiếu các gói công nghệ tổng hợp, liên kết nghiên cứu còn yếu và chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

Chương trình KHCN lĩnh vực chăn nuôi và thú y giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá mới. Ảnh: Tùng Đinh.
Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ đột phá với trọng tâm là xây dựng chương trình khoa học và công nghệ mang tính chiến lược, tập trung vào các công nghệ lõi.
Một trong những định hướng quan trọng là ứng dụng công nghệ di truyền tiên tiến như chỉnh sửa gen và chọn giống theo hệ gen nhằm tạo ra các giống vật nuôi có năng suất cao, kháng bệnh tốt.
Chuyển đổi số cũng được xác định là trụ cột phát triển, với mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) ngành chăn nuôi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh và tự động hóa sản xuất.
Trong lĩnh vực thú y, chiến lược phát triển vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà thế hệ mới được đặt lên hàng đầu, hướng tới làm chủ các công nghệ nền tảng như Reverse Genetics, CRISPR và mRNA. Mục tiêu là chủ động sản xuất vaccine trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu và từng bước xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao.

Mô hình chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và hướng tới mục tiêu Net Zero. Ảnh: Vinamilk.
Đồng thời, ngành sẽ thúc đẩy mô hình chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và hướng tới mục tiêu Net Zero thông qua nghiên cứu tái chế chất thải, phát triển phụ gia thức ăn giảm khí nhà kính.
Lộ trình triển khai được xây dựng theo từng giai đoạn từ khởi động, thử nghiệm đến thương mại hóa và xuất khẩu, với kỳ vọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà thú y của khu vực.
“Với nền tảng đã đạt được và định hướng chiến lược rõ ràng, chương trình KHCN lĩnh vực chăn nuôi và thú y giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo an ninh dịch bệnh và đưa ngành chăn nuôi, thú y Việt Nam phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập toàn cầu”, ông Nguyễn Văn Long khẳng định.
Nguyễn Thủy - Tùng Đinh