SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Toàn cảnh đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025: Vị trí và triển vọng của Việt Nam trên bản đồ công nghệ thế giới

[28/03/2026 18:56]

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ nhờ làn sóng đổi mới sáng tạo (ĐMST), thế giới đang chứng kiến mức đầu tư lớn vào nghiên cứu và phát triển (R&D), cùng sự bứt phá của nhiều lĩnh vực công nghệ mới như: trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học. Trên cơ sở các bộ số liệu quốc tế công bố mới nhất, Việt Nam cho thấy nhiều tín hiệu tích cực trong nhóm quốc gia đang phát triển, đặc biệt về hiệu suất ĐMST và tiềm năng vươn lên trở thành trung tâm công nghệ của khu vực.

Bối cảnh đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025

Các xu hướng lớn và quốc gia dẫn đầu: Quy mô đầu tư cho ĐMST trên toàn cầu đang đạt mức cao chưa từng có. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tổng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) toàn cầu đã gần 2,75 nghìn tỷ USD vào năm 2023, tăng gần gấp ba lần so với năm 2000. Tỷ trọng R&D trong GDP thế giới cũng tăng từ dưới 1,5% lên gần 2% trong giai đoạn 2000-2023, cho thấy kinh tế toàn cầu ngày càng dựa vào ĐMST. Đóng góp lớn vào xu hướng này là những nền kinh tế phát triển và mới nổi đầu tàu.

Xét về phân bố địa lý, châu Á đang trỗi dậy mạnh mẽ khi chiếm khoảng 46% tổng chi R&D toàn cầu năm 2023 (so với 25% năm 2000) nhờ sự vươn lên của Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) hiện đóng góp 29%, châu Âu 21%. Đáng chú ý, nhiều quốc gia thu nhập trung bình đã vươn lên nhóm dẫn đầu về chi tiêu R&D, như Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil - minh chứng cho sự mở rộng của đổi mới sáng tạo ra ngoài khối nước giàu. Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch rất lớn: Khoảng 66% các nền kinh tế trên thế giới hiện chi cho R&D chưa tới 1% GDP, trong đó có Việt Nam (dưới 0,5% GDP). Điều này cho thấy, đa số các nước đang phát triển còn ở khoảng cách xa so với nhóm dẫn đầu về đầu tư cho khoa học công nghệ.

Những lĩnh vực công nghệ ưu tiên toàn cầu: Năm 2025, các chính phủ và doanh nghiệp toàn cầu đặc biệt tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực công nghệ then chốt, vừa mang tính đột phá vừa gắn liền với các thách thức toàn cầu:

AI đang đứng đầu trong danh sách ưu tiên đầu tư công nghệ trên thế giới. Làn sóng ứng dụng AI, đặc biệt là AI tạo sinh (generative AI), bùng nổ sau thành công của các mô hình như ChatGPT, dẫn đến cuộc chạy đua rót vốn mạnh mẽ.

Ảnh minh họa

Năng lượng tái tạo và công nghệ xanh: Cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu thúc đẩy làn sóng đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng sạch. Năm 2023, đầu tư cho năng lượng sạch (bao gồm năng lượng tái tạo, xe điện, lưu trữ điện, v.v.) đã đạt khoảng 1,7 nghìn tỷ USD, chiếm hơn 60% tổng đầu tư năng lượng toàn cầu. Lần đầu tiên, chi tiêu cho điện mặt trời (ước tính 380 tỷ USD trong năm 2023, tương đương hơn 1 tỷ USD mỗi ngày) đã vượt mức đầu tư cho khai thác dầu mỏ. Các nước đều đua nhau phát triển điện mặt trời, điện gió, hydro xanh, v.v. để vừa giảm phát thải khí nhà kính, vừa đảm bảo an ninh năng lượng.

Công nghệ sinh học và y tế: Đại dịch COVID-19 trong những năm đầu thập kỷ 2020 đã chứng minh vai trò sống còn của công nghệ sinh học (biotech) trong việc phát triển vắc xin, thuốc chữa bệnh cũng như các giải pháp y tế khẩn cấp. Từ sau đại dịch, đầu tư toàn cầu vào công nghệ sinh học, đặc biệt trong lĩnh vực y tế và vắc xin, tiếp tục tăng trưởng. Nhiều đột phá về giải mã gen, chỉnh sửa gen (CRISPR) hay sản xuất thuốc sinh học mới ra đời, tạo nền tảng cho việc điều trị các bệnh nan y và nâng cao chất lượng cuộc sống. Bên cạnh y tế, công nghệ sinh học nông nghiệp cũng được chú trọng để tăng năng suất và tính bền vững của sản xuất lương thực. Các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, châu Âu, và cả những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ đang đầu tư mạnh vào nghiên cứu ứng dụng biotech nhằm thương mại hóa các sản phẩm sinh dược, kỹ thuật gene, tế bào gốc, v.v. Xu hướng mở rộng sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực sinh học cũng được ghi nhận.

Chuyển đổi số và các công nghệ số khác: Ngoài các lĩnh vực trên, chuyển đổi số tiếp tục là xu hướng bao trùm trong giai đoạn 2020-2025. Đại dịch đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong hầu hết các ngành từ giáo dục, thương mại, tài chính đến hành chính công. Điện toán đám mây, dữ liệu lớn (big data), Internet vạn vật (IoT) và gần đây là công nghệ chuỗi khối (blockchain) đều nằm trong danh mục đầu tư chiến lược của nhiều chính phủ và doanh nghiệp. Kinh tế số toàn cầu tăng trưởng nhanh, ước tính chiếm khoảng 15,5% GDP toàn cầu và dự báo sẽ còn mở rộng hơn trong thập kỷ tới.

Tóm lại, bức tranh ĐMST toàn cầu năm 2025 nổi bật với sự tăng tốc đầu tư R&D bất chấp những cú sốc kinh tế gần đây, và sự dịch chuyển trọng tâm công nghệ sang các lĩnh vực mới nổi đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và chuyển đổi số. Những nước dẫn đầu vẫn là các cường quốc truyền thống song khoảng cách đang dần thu hẹp khi nhiều nền kinh tế mới nổi vươn lên, đồng thời các lĩnh vực AI, năng lượng sạch, biotech trở thành “đấu trường” chính cho cuộc chạy đua công nghệ.

Vị trí và triển vọng của Việt Nam trên bản đồ công nghệ thế giới

Thứ nhất, thành tựu và vị thế hiện tại của Việt Nam: Trong thập kỷ qua, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo trong nhóm các nước thu nhập trung bình thấp. Theo Báo cáo Chỉ số ĐMST toàn cầu (Global Innovation Index - GII) 2024 của WIPO, Việt Nam xếp thứ 44/133 nền kinh tế về ĐMST, tăng 2 bậc so với năm 2023. Điều này đồng nghĩa Việt Nam duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, chỉ sau Ấn Độ (hạng 39). Đáng chú ý, Việt Nam thuộc nhóm những nền kinh tế có bước tiến nhanh nhất về xếp hạng ĐMST từ năm 2013 đến nay, cùng với Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Philippines, v.v. WIPO cũng ghi nhận Việt Nam là 1 trong 3 quốc gia liên tục đạt thành tích ĐMST vượt trên mức phát triển của mình suốt 14 năm liền, bên cạnh Ấn Độ và Moldova.

Thứ hai, năng lực ĐMST nội địa của khu vực doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Dù doanh nghiệp đóng góp phần lớn vào chi tiêu R&D (do vai trò của khối FDI), nhưng doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp với hàm lượng R&D thấp. Các tập đoàn công nghệ trong nước có quy mô và năng lực còn nhỏ so với thế giới, chưa có nhiều sản phẩm, sáng chế tầm cỡ quốc tế. Số bằng sáng chế do người Việt hoặc công ty Việt đăng ký tại các thị trường lớn (Hoa Kỳ, châu Âu) còn rất ít. Hệ sinh thái khởi nghiệp tuy sôi động nhưng còn thiếu những “kỳ lân” công nghệ đủ sức vươn tầm toàn cầu. Việc liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa cũng chưa chặt chẽ, dẫn đến chuyển giao công nghệ hạn chế và doanh nghiệp trong nước khó tham gia chuỗi giá trị cao hơn.

Thứ ba, môi trường thể chế và giáo dục cho ĐMST cần cải thiện. Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu trí tuệ, chính sách thuế và ưu đãi cho hoạt động R&D, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp sáng tạo. Hiện nay, mặc dù luật pháp liên quan đã sửa đổi (ví dụ Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 bắt đầu có hiệu lực từ 2024 mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế và cơ chế cấp bằng nhanh hơn), song việc thực thi còn chưa mạnh, tình trạng vi phạm bản quyền, sao chép ý tưởng vẫn phổ biến, làm nản lòng nhà sáng tạo. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục đại học và dạy nghề chưa đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ ưu tiên.

Chiến lược và triển vọng tương lai: Nhận thức rõ những hạn chế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược và chính sách nhằm nâng cao năng lực công nghệ và ĐMST quốc gia, với tầm nhìn đến 2030 và 2045.

Một số định hướng lớn đã và đang triển khai bao gồm: Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI đến 2030: Chiến lược này đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới và phát triển giải pháp AI trong khu vực ASEAN và trên thế giới vào năm 2030. Theo đó, Việt Nam sẽ tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng tính toán cho AI, phát triển 10 trung tâm AI và đào tạo 50.000 nhân lực AI trình độ cao.

Thúc đẩy ĐMST trong năng lượng tái tạo: Việt Nam gây ấn tượng khi trở thành một trong những nước đi đầu về mở rộng công suất năng lượng tái tạo trong vài năm qua. Nhờ các chính sách khuyến khích (giá FIT cho điện mặt trời, điện gió), Việt Nam đã lắp đặt hàng chục GW điện mặt trời chỉ trong giai đoạn 2019-2020, lọt top các quốc gia tăng trưởng điện mặt trời nhanh nhất. Quy hoạch Điện VIII (PDP8) thông qua năm 2023 đặt mục tiêu điện từ năng lượng tái tạo chiếm khoảng 31-39% tổng điện lượng vào năm 2030, tiến tới 67,5-71,5% vào năm 2050 để đạt mục tiêu trung hòa carbon.

Chiến lược phát triển công nghệ sinh học đến 2030: Lĩnh vực công nghệ sinh học được Việt Nam xác định là mũi nhọn phục vụ phát triển bền vững. Năm 2023, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học nhằm đáp ứng yêu cầu mới. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ gene, công nghệ tế bào, enzyme-protein, v.v. để ứng dụng rộng rãi trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm và môi trường.

Thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới và nguồn nhân lực: Bên cạnh các chiến lược ngành, Việt Nam đang xây dựng hệ sinh thái ĐMST toàn diện. Chính phủ thành lập Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) để tài trợ cho các dự án R&D, đồng thời cho phép thành lập các quỹ đầu tư khởi nghiệp tư nhân. Các không gian ĐMST (innovation hub) được mở tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, v.v. tạo môi trường cho startup và nhà nghiên cứu gặp gỡ, hợp tác. Về nhân lực, trọng tâm là cải thiện giáo dục STEM và đào tạo kỹ sư, cử nhân công nghệ chất lượng cao. Chương trình gửi nghiên cứu sinh đi đào tạo ở các nước tiên tiến cũng được đẩy mạnh nhằm tạo nguồn chuyên gia tương lai. Một tín hiệu tích cực là ngày càng có nhiều kỹ sư người Việt ở nước ngoài trở về khởi nghiệp tại quê nhà hoặc tham gia các dự án trong nước, mang theo tri thức và kinh nghiệm quốc tế.

Khuyến nghị

Để nâng tầm vị trí trên bản đồ công nghệ thế giới, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực toàn diện và dài hạn.

Trước hết, gia tăng đầu tư cho R&D là yêu cầu cấp bách - phấn đấu nâng tỷ lệ chi R&D/GDP lên mức ~1% trong vài năm tới, thông qua tăng ngân sách nhà nước và khuyến khích khu vực tư nhân, FDI đóng góp. Cùng với đó, cần phát huy hiệu quả các quỹ đổi mới hiện có, đảm bảo vốn đến đúng dự án tiềm năng.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực phải đi trước một bước: cải cách giáo dục đại học theo hướng gắn với nghiên cứu, khuyến khích sáng tạo; thu hút nhân tài quốc tế và Việt kiều thông qua đãi ngộ tốt; đồng thời nâng cao kỹ năng số cho lao động phổ thông để thích ứng với công nghệ mới.

Thứ ba, cải thiện môi trường thể chế: tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính trong nghiên cứu, khởi nghiệp; thực thi nghiêm luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ nhà sáng chế; xây dựng thị trường vốn cho startup (như sàn giao dịch vốn mạo hiểm, cơ chế sandbox cho công nghệ mới).

Thứ tư, thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ: tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức như WIPO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định chính sách ĐMST; chủ động tham gia các mạng lưới nghiên cứu khu vực và toàn cầu; học hỏi mô hình các nước thành công (Hàn Quốc, Israel) để áp dụng phù hợp.

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 3 năm 2026 (ntqnhu)

Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ