Đặc điểm sinh học của cá trác ngắn (priacanthus macracanthus, cuvier 1829) ở vùng biển Trung Bộ, Việt Nam
Nghiên cứu nhằm đánh giá một số đặc điểm sinh học của cá trác ngắn (Priacanthus macracanthus) ở vùng biển Trung bộ, Việt Nam, dựa trên dữ liệu sinh học nghề cá thu thập từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2019.
Tổng cộng 1.798 cá thể được thu ngẫu nhiên từ các bến cá Thọ Quang (Đà Nẵng), Cửa Đại (Quảng Nam), Mỹ Thọ, Nhơn Hải và Quy Nhơn (Bình Định), cùng Hòn Rớ (Khánh Hòa), mỗi điểm lấy tối thiểu 20–30 cá thể. Mẫu sinh học được tiến hành trực tiếp ngoài thực địa cho từng cá thể với cỡ mẫu phân tích 150 cá thể/tháng, tập trung vào các chỉ tiêu như chiều dài toàn thân (TL), khối lượng cá thể, khối lượng tuyến sinh dục, xác định giới tính và độ chín tuyến sinh dục.

Ảnh minh họa
Kết quả cho thấy chiều dài cá trong sản lượng khai thác dao động từ 70 đến 273 mm, chiều dài khai thác trung bình đạt 137,9 ± 0,97 mm. Mối quan hệ chiều dài–khối lượng được mô tả theo hàm: (W_{chung} = (7,41e^{-5}) \times TL^{2,69}) với (R^2 = 0,98). Sinh trưởng của cá trác ngắn được ước tính theo mô hình von Bertalanffy có dạng: (TL_t = 294 \times (1 - e^{-0,97,(t-1,058)})). Các hệ số chết cho thấy áp lực khai thác rõ rệt: hệ số chết chung (Z = 2,93), trong đó hệ số chết do khai thác (F = 1,99), hệ số chết tự nhiên (M = 0,94), và hệ số khai thác (E = 0,68).
Về cấu trúc quần thể, giới cái chiếm ưu thế so với giới đực với tỷ lệ đực/cái là 0,75/1. Mùa vụ sinh sản diễn ra từ tháng 7 đến tháng 10, với đỉnh vào tháng 8 và tháng 9. Chiều dài tham gia sinh sản lần đầu đạt 190,9 mm. Nhìn chung, các kết quả cho thấy quần thể cá trác ngắn ở vùng biển Trung bộ, Việt Nam đang bị khai thác quá mức, thể hiện qua mức độ khai thác cao (E = 0,68) và cường độ chết do khai thác vượt trội so với chết tự nhiên.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(10): 1331-1341 (ntdinh)