SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Khả năng sinh trưởng, năng suất thân thịt và chất lượng thịt của gà lông xước nuôi theo phương thức bán chăn thả

[03/04/2026 20:59]

Gà Lông Xước là giống gà bản địa của Việt Nam, nổi bật với khả năng thích nghi cao và bộ lông đặc trưng phủ gần như toàn thân.

Giống gà này được nuôi ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có các vùng cao thuộc Hà Giang như Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc; đồng thời cũng ghi nhận tại một số huyện của Hòa An và Trà Lĩnh (Cao Bằng). Tuy nhiên, tỷ lệ gà Lông Xước trong tổng đàn gà ở các huyện vùng cao còn rất thấp, quy mô chăn nuôi chủ yếu nhỏ (khoảng 10–30 con/hộ) và phương thức chăn nuôi là thả tự nhiên hoặc bán chăn thả, với số lượng gà thịt chiếm chủ yếu. Vì nuôi trong điều kiện tự nhiên và quy mô nhỏ, giống vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng di truyền về sức sản xuất và hiệu quả chăn nuôi. Hiện nay, giống phân bố không đều và đang có nguy cơ suy giảm nguồn gen do hiện tượng pha tạp, lai trộn với các giống khác.

 Ảnh minh họa

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá một cách toàn diện khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của gà Lông Xước, qua đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen quý này. Thí nghiệm sử dụng tổng số 60 con gà Lông Xước (30 trống, 30 mái), nuôi theo phương thức bán chăn thả tại Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ 0–16 tuần tuổi. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh được áp dụng theo quy trình cho gà lông màu của Viện Chăn nuôi (2004), đảm bảo điều kiện theo dõi phù hợp để phản ánh đúng khả năng sinh trưởng và chỉ tiêu sản xuất của giống.

Kết quả cho thấy gà Lông Xước có tỷ lệ nuôi sống cao đạt 95%. Ở 16 tuần tuổi, khối lượng cơ thể của gà trống và gà mái lần lượt là 1.750,45 g và 1.407,79 g; sinh trưởng tuyệt đối trung bình trong cả giai đoạn đạt 15,50 g/con/ngày ở gà trống và 12,42 g/con/ngày ở gà mái. Về năng suất thịt, tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi và tỷ lệ thịt lườn tương ứng lần lượt là 76,3; 21,18; 15,21% ở gà trống và 75,86; 21,43; 15,26% ở gà mái. Các chỉ tiêu chất lượng thịt gồm tỷ lệ mất nước bảo quản, mất nước chế biến, giá trị pH và màu sắc đều đạt tiêu chuẩn; độ dai của thịt dao động từ 40,13 N đến 50,45 N, phản ánh chất lượng thịt phù hợp để định hướng khai thác và bảo tồn giống trong sản xuất.

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(9): 1160-1168 (ntdinh)
Xem thêm
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ