Hiện trạng trứng cá, cá con ở vùng biển tỉnh Kiên Giang
Công tác bảo vệ nguồn lợi hải sản hiện nay được triển khai bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong đó việc khoanh vùng bảo vệ nguồn giống là hướng phù hợp để hạn chế tác động bất lợi lên các loài hải sản trong giai đoạn sinh sản và ương ấu thể.
Cơ sở khoa học của phương thức này dựa trên thông tin về mùa sinh sản, các khu vực bãi đẻ và bãi ương nuôi tự nhiên của quần thể hải sản. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã xác định khu vực sinh sản, bãi ương và vùng ương nuôi nguồn giống theo từng nhóm loài (đối với tôm, cá biển nói chung và riêng), qua đó đạt được các kết quả quan trọng trong phục vụ công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Trên nền điều kiện tự nhiên của vùng biển Kiên Giang, việc xác định các khu vực nguồn giống càng có ý nghĩa khi định hướng phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 nhấn mạnh chuyển dịch cơ cấu nghề theo hướng tăng khai thác xa bờ, hạn chế khai thác ven bờ.
.jpeg)
Ảnh minh họa
Vùng biển Kiên Giang có diện tích khoảng 63.290 km², bờ biển dài gần 200 km, với nền đáy bằng phẳng xen kẽ các đảo và điều kiện thuận lợi cho sinh sản cũng như phát triển của nhiều loài hải sản. Các bãi đẻ, bãi giống và khu vực ven bờ – ven đảo đóng vai trò then chốt trong quá trình tái tạo nguồn lợi. Dưới yêu cầu quản lý và định hướng khai thác, chương trình điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh sống của các loài thủy sản trên vùng biển Kiên Giang đã được phê duyệt, nhằm làm rõ hiện trạng nguồn lợi, hiện trạng khai thác, xác định các ngư trường tiềm năng và đề xuất vùng/nhằmng khai thác tối ưu cho vùng bờ, vùng lộng; đồng thời điều tra nguồn giống để phục vụ bảo vệ và phát triển bền vững. Dữ liệu về trứng cá, cá con và vùng sinh sản – ương nuôi tự nhiên là cơ sở quan trọng cho công tác quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi của tỉnh.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng thành phần loài, mật độ và phân bố trứng cá, cá con ở vùng biển ven bờ và vùng lộng Kiên Giang, góp phần cung cấp thông tin khoa học cho quy hoạch khai thác hải sản. Tổng cộng 120 mẫu trứng cá, cá con được thu thập trong 4 chuyến điều tra năm 2022–2023 bằng lưới tầng mặt. Kết quả xác định được 42 loài thuộc 45 họ, chiếm 36,4% tổng số loài ghi nhận đối với trứng cá và 17,6% đối với cá con. Theo mùa gió Đông Bắc thu được 5.067 trứng cá và 1.653 cá con, tương ứng 37 loài thuộc 43 họ; mùa gió Tây Nam ghi nhận 48.285 trứng cá và 666 cá con, tương ứng 23 loài thuộc 30 họ. Mật độ trung bình đạt 2.840 trứng cá/1.000 m³ và 92 cá con/1.000 m³; mùa gió Đông Bắc lần lượt 848 và 120, còn mùa gió Tây Nam lần lượt 6.545 và 49. Nghiên cứu cũng xác định được 3 khu vực ương nuôi nguồn giống trứng cá, cá con và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi giai đoạn sớm của trứng cá, cá con ở vùng biển Kiên Giang.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(9): 1169-1178 (ntdinh)