Ảnh hưởng của kim loại nặng đến các loài thuộc phân lớp giáp xác chân chèo COPEPODA tại cửa sông Hàn và sông Vu Gia - Thu Bồn
Cửa sông là vùng chuyển tiếp giữa nước ngọt và nước mặn, nơi tiếp nhận khối lượng lớn nguồn thải gây ô nhiễm từ hoạt động của con người diễn ra quanh khu vực.
Tại Việt Nam, sông Hàn (Đà Nẵng) là nơi đón nhận nhiều dòng thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế – xã hội của thành phố trước khi đổ ra biển. Tương tự, sông Vu Gia – Thu Bồn (Quảng Nam) cũng chịu tác động đáng kể từ hoạt động công nghiệp và khai thác, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng (KLN) ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Ảnh minh họa
Copepods (giáp xác chân chèo), thuộc ba bộ Calanoida, Cyclopoida và Harpacticoida, có kích thước nhỏ, vòng đời ngắn và sinh sản nhanh. Nhóm sinh vật này phân bố rộng trong nhiều thủy vực, đa dạng về hình thái và môi trường sống; đồng thời rất nhạy cảm với biến đổi các yếu tố môi trường. Do đó, Copepods thường được lựa chọn trong các thử nghiệm độc tính, và được xem là sinh vật chỉ thị sinh học đối với ô nhiễm KLN, nhất là trong các thủy vực biển. Nhiều nghiên cứu trước đây cũng cho thấy KLN có thể tác động đến đa dạng và mật độ một số nhóm động vật phù du; tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về ảnh hưởng của KLN lên Copepods vẫn còn hạn chế, trong khi nhóm này lại phổ biến và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái dưới nước.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ thành phần loài Copepods, đánh giá hiện trạng hàm lượng KLN (Pb, Cr, Cd, Cu) trong mẫu nước mặt và trầm tích, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa hàm lượng KLN với sự xuất hiện và mật độ Copepods tại hai khu vực cửa sông Hàn và sông Vu Gia – Thu Bồn. Mẫu thực địa được thu tại 16 địa điểm thuộc cửa sông Hàn (Đà Nẵng) và sông Vu Gia – Thu Bồn (Quảng Nam); các mẫu động vật phù du được phân loại và đếm mật độ theo từng loài. Mối tương quan giữa mật độ, sự xuất hiện Copepods và hàm lượng KLN được xây dựng bằng mô hình phân tích tương quan đa biến (CCA). Kết quả ghi nhận các loài xuất hiện khá phổ biến ở cả hai khu vực gồm Acartia clausi, Mongolodiaptomus mekongensis, Halicyclops lanceolatus, Oithona nana, Paracyclopina nana và Mesochra bodini. Phân tích CCA cho thấy KLN có ảnh hưởng đáng kể đến một số loài; cụ thể, các loài S. bulbosa, O. talipes, L. enchinatus và H. lanceolatus có tương quan thuận với sự gia tăng Cu, Pb, Cr trong nước và với Pb, Cu trong trầm tích, trong khi các loài A. tsuensis, O. nana, T. triangularis, P. trihamatus và L. sibirica lại có tương quan nghịch với sự gia tăng KLN trong môi trường.
Tạp chí Môi trường, chuyên đề IV/2024 (dtnkhanh)