Thái Nguyên đặt kỳ vọng phát triển tín chỉ các-bon từ tài nguyên rừng
Trước xu hướng phát triển bền vững và giảm phát thải khí nhà kính, Thái Nguyên kỳ vọng khai thác hiệu quả tiềm năng rừng và nông nghiệp để tham gia thị trường tín chỉ các-bon. Hướng đi này góp phần bảo vệ môi trường, đa dạng sinh kế và tạo động lực tăng trưởng mới cho địa phương.

Với diện tích rừng lớn cùng thế mạnh trong sản xuất nông, lâm nghiệp, Thái Nguyên đang đứng trước cơ hội tham gia thị trường tín chỉ các-bon, một lĩnh vực còn khá mới nhưng giàu tiềm năng trong xu thế tăng trưởng xanh toàn cầu. Những năm gần đây, địa phương đã chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, tăng độ che phủ rừng và thúc đẩy các mô hình canh tác thân thiện với môi trường.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để từng bước hình thành nguồn tín chỉ các-bon thông qua hoạt động hấp thụ và giảm phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp về giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng và sản xuất xanh cũng đang được quan tâm.
Đồng thời, nhiều mô hình trồng rừng, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tiết kiệm năng lượng được triển khai nhằm hướng tới mục tiêu giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái.
Trong bối cảnh nhu cầu mua bán tín chỉ các-bon trên thế giới ngày càng gia tăng, việc chủ động chuẩn bị về kỹ thuật, dữ liệu và tổ chức sản xuất được kỳ vọng sẽ mở thêm cơ hội phát triển kinh tế cho địa phương. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, lâm nghiệp tiếp tục là ngành thế mạnh của Thái Nguyên với hơn 557.000ha rừng, tỷ lệ che phủ trên 62% (cao hơn mức bình quân cả nước).
Diện tích rừng lớn cùng độ che phủ cao tạo nên nguồn dự trữ các-bon tự nhiên có giá trị, là nền tảng quan trọng để hình thành tín chỉ các-bon. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC đã đạt trên 37.500ha, cùng hơn 42.000ha rừng gỗ lớn. Chứng chỉ FSC góp phần nâng cao giá trị gỗ xuất khẩu vào các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản,... đồng thời mở ra điều kiện tham gia thị trường các-bon; góp phần tăng tính minh bạch trong quản lý tài nguyên rừng, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao.
Đây cũng là cơ sở để tích hợp các tiêu chí về hấp thụ và lưu trữ các-bon vào quản lý rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo đếm, xác nhận và giao dịch tín chỉ trong tương lai.
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, với khoảng 14,7 triệu héc-ta rừng và độ che phủ 42%, mỗi năm rừng Việt Nam hấp thụ gần 70 triệu tấn CO2. Nếu tính theo đơn giá 5 USD/tín chỉ, nguồn thu có thể đạt gần 200 triệu USD, tương đương khoảng 5.000 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy giá trị kinh tế từ các-bon đang dần trở nên rõ nét, mở ra hướng khai thác mới song hành với giá trị lâm sản truyền thống. Tại xã Yên Trạch, địa phương có thế mạnh kinh tế rừng với tổng diện tích gần 6.500ha, trong đó hơn 4.100ha đã được cấp chứng chỉ FSC. Những năm gần đây, chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng người dân chuyển từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, áp dụng quy trình chăm sóc theo tiêu chuẩn FSC.
Giai đoạn 2025-2030, xã Yên Trạch đặt mục tiêu mở rộng diện tích rừng FSC lên 4.800ha đến 5.200ha, duy trì tỷ lệ che phủ 50-52%. Chính quyền địa phương tiếp tục phối hợp với kiểm lâm và doanh nghiệp chuyển giao kỹ thuật, nâng cao chất lượng rừng trồng. Đây là bước chuẩn bị cần thiết để sẵn sàng tham gia thị trường các-bon, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Sự chuyển biến về nhận thức và phương thức sản xuất của người dân cho thấy hướng đi lâm nghiệp gắn với tín chỉ các-bon đang dần hình thành, tạo nền tảng để mở rộng quy mô trong thời gian tới.
Bên cạnh lợi thế về rừng, lĩnh vực trồng trọt cũng mở ra dư địa lớn. Các cây trồng chủ lực như lúa, chè, dược liệu có khả năng tham gia thị trường các-bon thông qua áp dụng quy trình sản xuất giảm phát thải. Vụ xuân năm 2025, mô hình canh tác lúa thông minh ướt - khô xen kẽ được triển khai trên 12ha tại xóm Bản Đông, xã Hợp Thành, với 104 hộ tham gia. Người dân áp dụng phương pháp SRI, IPHM và kỹ thuật tưới AWD, giúp tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng, cải thiện sinh trưởng của cây lúa.
Kết quả cho thấy chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới giảm từ 30-40%. Lợi nhuận đạt 65,7 triệu đồng/ha, cao hơn 56% so với phương thức truyền thống. Đồng thời, phương pháp tưới AWD giúp giảm phát thải khí methane, loại khí nhà kính có tác động mạnh trong canh tác lúa nước.
Việc ghi nhận và lượng hóa phát thải cũng giúp địa phương tiếp cận các quy trình kỹ thuật quốc tế, tạo tiền đề tham gia các chương trình tín chỉ các-bon quy mô lớn hơn. Từ mô hình ở Hợp Thành, hướng sản xuất nông nghiệp giảm phát thải ngày càng rõ nét, góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị canh tác.
Nhiều gói kỹ thuật giảm phát thải cũng đang được triển khai rộng rãi như: Nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, tưới tiết kiệm, chế biến sâu... Thống kê cho thấy, toàn tỉnh hiện có hơn 7.450ha cây trồng sản xuất theo hướng an toàn; 183 cơ sở chăn nuôi đạt chứng nhận VietGAP; trên 320ha được chứng nhận hữu cơ; 138 vùng trồng được cấp mã số. Hệ thống chứng nhận và mã số vùng trồng góp phần chuẩn hóa dữ liệu sản xuất, phục vụ công tác theo dõi phát thải và truy xuất nguồn gốc, tạo thuận lợi khi kết nối với các nền tảng quản lý tín chỉ các-bon trong tương lai.
Đáng chú ý, thực hiện Quyết định số 232 ngày 24/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam, Thái Nguyên đã triển khai nhiều nhiệm vụ nhằm hướng tới mục tiêu giảm phát thải ròng về “0” vào năm 2050. UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch số 73/KH-UBND triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn 2050. Mục tiêu đến năm 2035, lĩnh vực trồng trọt phấn đấu giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính.
Tỉnh dự kiến xây dựng nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho nông sản; triển khai ít nhất 2 mô hình giảm phát thải trên cây chè và dong riềng có khả năng nhân rộng; thí điểm khoảng 15 mô hình canh tác đủ điều kiện hình thành tín chỉ các-bon. Cùng với các mục tiêu cụ thể, tỉnh chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân trong tổ chức thực hiện.
Việc huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt từ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường và tín chỉ các-bon, được xác định là yếu tố quan trọng nhằm rút ngắn quá trình tiếp cận thị trường. Định hướng đến năm 2050, ngành trồng trọt phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại, phát thải thấp; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và nông nghiệp thông minh.
Tham gia thị trường tín chỉ các-bon không chỉ mở ra hướng khai thác mới đối với tài nguyên rừng và sản xuất nông nghiệp của Thái Nguyên mà còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển theo hướng xanh và bền vững hơn. Thông qua các hoạt động giảm phát thải, bảo vệ rừng và thay đổi phương thức sản xuất, sẽ trở thành cơ hội tạo nguồn thu từ các giá trị môi trường cửa địa phương.
Khi xu hướng kinh tế xanh ngày càng được thúc đẩy trên phạm vi toàn cầu, những lợi thế về rừng và nông nghiệp của Thái Nguyên có thể trở thành nguồn lực quan trọng để nâng cao chất lượng môi trường sống và hướng tới phát triển hài hòa giữa kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Theo https://thiennhienmoitruong.vn