Hôm nay, Thứ tư 28-06-2017

Tìm kiếm
 

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH


 30 NĂM PHÁT TRIỂN NGÀNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ (1979 - 2009)

  • Tiền thân của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ là Ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hậu Giang được ra đời vào ngày 03 tháng 02 năm 1979 với chức năng chủ yếu cho đến nay là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước các hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn. Với nhiều tên gọi như Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật (1983); Ban Khoa học và Kỹ thuật (1990); khi tách tỉnh Hậu Giang là Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1993); khi tách thành phố Cần Thơ (2004) có tên gọi như ngày hôm nay; trong từng thời kỳ, nhiệm vụ của Sở đã phát triển theo nhu cầu thực tế phát triển đất nước và tại địa phương.
  • 30 năm qua là một chặng đường phát triển, tuy không dài so với các ngành khác, nhưng được sự quan tâm lãnh đạo của Thành (Tỉnh) ủy, sự chỉ đạo kịp thời của UBND thành phố (tỉnh), sự nhiệt tình vì sự nghiệp khoa học của các sở ban ngành, các Viện Trường, các nhà khoa học và tập thể công chức - viên chức, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thành phố đã đạt một số thành tích đáng kể trong việc gắn khoa học với phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và đóng góp một phần cho sự phát triển cả vùng và cả nước.

I. THỜI KỲ HÌNH THÀNH 1979- 1982:
1. Về tổ chức bộ máy

  • Trong tình hình kinh tế- xã hội phải khắc phục hậu quả sau chiến tranh, vừa khắc phục lũ lụt, sâu rầy phá hại mùa màng, các hoạt động hợp tác hóa nông nghiệp có chiều hướng đi xuống. Nhu cầu bức xúc về lương thực là nổi trăn trở của lãnh đạo tỉnh. Năm 1979 Ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hậu Giang được thành lập nhằm đáp ứng tình hình trên, với hoạt động chủ yếu là công tác kiện toàn tổ chức, và một số hoạt động khởi đầu cho công tác quản lý KH&CN trên địa bàn tỉnh Hậu giang (cũ).
  • Vào thời gian mới thành lập (1979), Ban Khoa học - Kỹ thuật tỉnh có 19 CB-CC, trong đó có 9 Đại học. Về tổ chức có 3 phòng: Tổ chức- Hành chánh, phòng Chuyên viên và phòng Định chuẩn.

2. Một số các kết quả hoạt động:

  • Thời kỳ này hoạt động của Ban tuy chưa có nhiệm vụ rỏ ràng, tổ chức và Cán bộ còn thiếu và yếu, nhưng đã đáp ứng tình thế và đạt một số kết quả sau:
  •  Về nông nghiệp, kết quả khoa học chủ yếu là công tác giống cây con. Giống lúa NN4B (IR.42) là thành công điển hình của công tác nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và được nhân rộng cho các tỉnh từ Nam chí Bắc (Hậu Giang, Nghệ Tĩnh, Hà Nội).  Các giống lúa khác, nhóm A-B, sau đó đã giúp cho tỉnh tăng năng suất 40% trong vòng 5 năm (1980-1985). Cùng với nghiên cứu cây lúa, trong lãnh vực thủy sản, kết quả nghiên cứu khoa học tại Hậu Giang đã đi đầu về việc nuôi tôm nước lợ từ nguồn giống tự nhiên, là mô hình tăng sản để sau đó phát triển ra các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL, tạo nguồn nguyên liệu thủy sản xuất khẩu cho đến nay.
  •  Về công nghiệp, các đề tài chủ yếu nghiên cứu cơ khí nông nghiệp. Một số kết quả nghiên cứu khoa học đã phục vụ thiết thực cho sản xuất như: tận dụng phế phẩm nông nghiệp (rơm, lỏi cây đay) làm bột giấy, cải tiến bơm lùa phục vụ tưới tiêu. Một số kết quả vẩn còn giá trị phục vụ sản xuất cho đến nay như: dàn cày chảo Đồng Tiến, máy gặt lúa xếp dãy, máy sấy lúa Hè Thu.
  •  Về hoạt động 3 mặt công tác, phòng Định chuẩn được thành lập là tiền thân của Chi cục TCĐLCL cho đến nay. Trong thời gian này, hoạt động chủ yếu là củng cố tổ chức, tăng cường trang thiết bị đo lường và bước đầu đi vào hoạt động quản lý kỹ thuật các đơn vị kinh tế ngành, huyện. Nhờ đó đã có tác dụng bước đầu trong khắc phục gian lận đo lượng, nhất là trong lãnh vực cân đong lương thực, vật tư nông nghiệp, xăng dầu...
  • Hoạt động thông tin quảng bá KH&CN đã có những bước phát triển tích cực. Những hội thảo, câu lạc bộ khoa học được tổ chức thường xuyên và được tiếp tục phát huy đến nay. Các tập san chuyên đề được đông đảo các nhà khoa học đồng tình ủng hộ và góp phần lớn trong việc phát động phong trào nghiên cứu khoa học trong giới trí thức tại tỉnh.
  •  Nhìn chung, những hoạt động ban đầu của Ban đã tạo tiền đề cho hoạt động KH&CN tại địa phương, góp phần đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và là bước đầu diễn tập cho công tác khuyến nông.

II. THỜI KỲ CỦNG CỐ 1983 - 1992
1.  Về tổ chức bộ máy 

  •  Đến năm 1983, thông qua quyết định số 370/QĐ ngày 6/12/1983 của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Ban được đổi tên là Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hậu Giang, và sau đó lại đổi trở lại là Ban (1990).
  • Những năm 80, trong tình hình biến động lớn về KT - XH giữa thời kỳ bao cấp và đổi mới. Sự phát triển kinh tế của cả nước cũng như của tỉnh gặp nhiều khó khăn, ngân sách dành cho khoa học tại địa phương có lúc gần như không đáng kể. Thậm chí có lúc xét lại sự tồn tại của các tổ chức quản lý KH&CN cấp tỉnh. Nhưng toàn thể công chức, viên chức (CCVC) của Ủy ban (Ban) KH&CN tỉnh vẫn cố gắng hoàn thành các nhiệm vụ được qui định về quản lý công tác kế hoạch hóa KH&CN; đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm; tăng cường hoạt động thông tin- sáng kiến; quản lý công tác điều tra cơ bản; kiểm tra thực hiện qui chế về BVMT; quản lý kỹ thuật (tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng) trên địa bàn tỉnh; quản lý công tác sáng kiến, sáng chế; thực hiện công tác thông tin phổ biến KH&CN; đề xuất và đôn đốc việc kiện toàn và tăng cường các tổ chức quản lý KH&CN các sở, huyện, thị và cơ sở sản xuất kinh doanh; tham gia xây dựng và phát huy tiềm lực KH&CN của tỉnh; và một số công tác khác.
  •  Căn cứ quyết định số 370.QĐ của Ủy ban KH&KT Nhà nước, Ủy ban KH&CN tỉnh được phát triển tổ chức bộ máy như sau: Phòng Hành chánh- Tổ chức; Phòng Tổng hợp- Kế hoạch; Phòng Thông tin KH&CN, Phòng Định chuẩn được nâng lên thành Chi cục Tiêu chuẩn- Đo lường- Chất lượng. 
  • Tổng số CB-CC từ 19 lên 42 người, trong đó có 20 Đại học, 1 trên Đại học. Ngoài các tổ chức theo qui định, Ủy ban còn có một số đơn vị khác như:
-         Thư viện KH&KT với trên 3.000 đầu sách, thuộc phòng Thông tin KH&KT. Năm 1994, toàn bộ sách được chuyển về thư viện Hậu Giang.
-         Phòng kiểm nghiệm- kiểm định thuộc Chi cục TCĐLCL với các bộ phận: hoá lý, vi sinh, vật liệu xây dựng.
-         Trung tâm Đào tạo- Bồi dưỡng nghiệp vụ KH&KT, thành lập năm 1987 với sự hợp tác của Ban KH&KT tỉnh và Trung tâm III thuộc Tổng cục TCĐLCL.
-         Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&KT, thành lập năm 1987 thuộc Ủy ban KH&KT tỉnh.
  •  Trong công tác xây dựng mạng lưới KH&KT, căn cứ Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 51/HĐBT về chính sách KH&KT, phần lớn các ngành, các huyện, thị, thành trong tỉnh Hậu Giang (cũ) đều có tổ chức quản lý hoạt động KH&KT. Các tổ chức này đã đóng góp công sức rất lớn trong hoạt động quản lý KH&KT cấp huyện, cơ sở. Tuy nhiên, những năm cuối thập niên 80, do việc sắp xếp tổ chức và biên chế, các bộ phận quản lý hoạt động KH&KT ở ngành và huyện đã ngưng hoạt động.


2. Một số kết quả hoạt động:

  • Về nông nghiệp, các đề tài - dự án đã tập trung vào việc tạo ra giống cây con năng suất cao, áp dụng IPM vào sản xuất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu về kinh tế vườn với sự tham gia của một số tỉnh vùng ĐBSCL, đã phát huy thế mạnh về cây ăn trái trên địa bàn tỉnh và cả vùng, đã đóng góp trong việc đa dạng hóa cây trồng, tăng thu nhập cho nông dân. Trong chăn nuôi, các giống heo địa phương được chú trọng việc chọn và nhân giống (heo Bông Ba Xuyên, Trắng Thuộc nhiêu), kết quả tạo điều kiện cho nông dân phát triển đàn heo trong điều kiện tự túc, tự cấp. Thực nghiệm nuôi Artemia trong ruộng muối tạo điều kiện cho người dân tăng lợi tức và khởi đầu cho ươm nuôi tôm giống sau này.
  •  Về công nghiệp, đã chú trọng đến công nghệ sau thu hoạch và công nghệ vật liệu mới. Vật liệu mới composite được ứng dụng đầu tiên ở vùng ĐBSCL trong việc chống thấm nhà cao tầng, phát huy tốt việc chống ăn mòn ở vùng mặn các sản phẩm: ghe xuồng, cửa cống khẩu độ lớn, phao luồng.
  •  Về văn xã, hoạt động nghiên cứu khoa học đã trở thành phong trào sôi nổi trong một số ngành, nhất là ngành y tế. Phần lớn cán bộ của ngành y tế đều tham gia phong trào nghiên cứu khoa học và đạt nhiều kết quả đáng kể trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, kết hợp Đông- Tây y trong điều trị bệnh. Các ngành khác tập trung nghiên cứu các vấn đề bức xúc, các yêu cầu của công tác lãnh đạo trong các lãnh vực: tăng cường công tác giáo dục, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, về tôn giáo, về an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội.
  •  Đặc biệt, Cần Thơ là một trong những địa phương sớm có hoạt động quản lý môi trường. Ngay từ năm 1991, Ban Khoa học và Kỹ thuật đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Qui định BVMT tỉnh Hậu Giang. Qui định này được sử dụng tạm thời trên toàn quốc trước khi có Luật BVMT. Cho đến nay, công tác quản lý Nhà nước về môi trường trên địa bàn tỉnh đã đi dần vào nề nếp, nâng cao được ý thức BVMT trong toàn dân. 
  • Về thông tin khoa học, bướm tin KH&CN được xuất bản đều đặn hàng quí. Những hoạt động này đã cung cấp thông tin kịp thời cho lãnh đạo, cho các nhà khoa học và cho đến tận tay nông dân. Ngoài các hình thức thông tin trên, được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật (KHKT) là đơn vị đầu tiên khai phá, hình thành khu triển lãm thành tựu kinh tế - kỹ thuật của tỉnh, nay là Trung tâm Hội chợ Triển lãm Cần Thơ. 
  • Về quản lý kỹ thuật, sau khi thành lập Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (TCĐLCL), được sự hỗ trợ của Tổng cục TCĐLCL, các tổ chức quốc tế đã giúp tăng cường trang thiết bị kiểm định (Liên Xô, 1985), dự án VIE/86/037 đã tăng cường thiết bị kiểm nghiệm (UNIDO, 1990-1991). Được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Ủy ban KH&KT tỉnh đã thực hiện tổ chức các cuộc hội chợ tại Quang Trung (TP. HCM), Giảng Võ (Hà Nội) và tại Cần Thơ. Thông qua tăng cường năng lực quản lý TCĐLCL và tổ chức tham gia hội chợ, đã mang lại cho tỉnh 69 sản phẩm chất lượng cao đạt huy chương các loại. Nhờ đó đã củng cố và phát huy phong trào chất lượng tại địa phương và hoạt động quản lý TCĐLCL là một trong những hoạt động nổi bật của Ủy ban KH&KT tỉnh Hậu Giang. 
  • Nhìn chung, công tác triển khai các đề tài trong thời kỳ này có số lượng tương đối nhiều, nhưng qui mô nhỏ, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể, mang tính chất vi mô. Tuy nhiên, thời kỳ này đã có định hướng được một số mục tiêu khoa học cụ thể của ngành công nghệ cao như công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và hoạt động quản lý môi trường. Đinh hướng này đã giúp ngành có bước đi đúng trong phục vụ phát triển KT- XH trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa.


III. THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1993 - 2003

1. Về tổ chức bộ máy

  • Sau khi tách tỉnh Hậu Giang, cùng với cả nước tình hình KT-XH của tỉnh Cần Thơ có bước chuyển biến đi lên, nhu cầu tăng năng suất lao động và hội nhập quốc tế phải gắn với mục tiêu đẩy mạnh hơn nửa công tác quản lý khoa học, chuyển giao và nâng cao công nghệ nhằm tăng năng suất - chất lượng - hiệu quả trong sản xuất. Vấn đề BVMT đã trở thành mối quan tâm không chỉ trên bình diện của một địa phương, một quốc gia mà đã có tính chất toàn cầu. Ngày 6/12/1993, Sở Khoa học- Công nghệ và Môi trường (KH,CN&MT) tỉnh Cần Thơ được thành lập trên cơ sở nâng Ban KH&KT tỉnh lên thành Sở, trực thuộc UBND tỉnh Cần Thơ. Các nhiệm vụ cơ bản của Sở vẫn được giao như thời kỳ trước, được làm rõ hơn công tác quản lý Nhà nước về khoa học- công nghệ; và tăng cường hơn nửa công tác quản lý môi trường và thanh tra Nhà Nước về KH,CN&MT... 
  • Theo đó, khối văn phòng Sở ngoài 3 phòng hiện có, đã thành lập thêm phòng Quản lý Môi trường năm 1993(sau đó bàn giao về Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2003) và Thanh tra Sở (1995).
  •  Khối đơn vị trực thuộc Sở ngoài Chi cục TCĐLCL, đã thành lập thêm:

-  Trung tâm Đào tạo- Tư vấn và Chuyển giao công nghệ (1994), trên cơ sở của Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ KH&CN.

 

-  Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn- Đo lường- Chất lượng (1995), trên cơ sở vật chất và trang thiết bị Phòng phân tích kiểm nghiệm của Chi cục TCĐLCL.

 

-  Trạm Giám sát Môi trường (1998), được thành lập với sự hỗ trợ của Cục Môi trường, Trường Đại học Bách khoa TP. HCM, sau đó bàn giao về Sở Tài nguyên và Môi trường (2003).

  • Đội ngũ của Sở từ 42 lên 68 CC-VC (biên chế: 62), trong đó từ 1 trên Đại học của năm 1982 lên 10 (chiếm tỉ lệ 15% CC-VC), và từ 20 Đại học lên 36 (chiếm tỉ lệ 52%).
  • Thành phố Cần Thơ là đơn vị đi đầu của Bộ KH&CN trong việc cải cách bộ máy quản lý ở địa bàn cấp tỉnh, thành phố. Tách bộ phận sự nghiệp khoa học ra khỏi đơn vị quản lý Nhà nước tạo sự khách quan trong công tác thanh kiểm tra (tách phòng kiểm định, kiểm nghiệm ra khỏi Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng giao về Trung tâm Kỹ thuật và Ứng dụng Công nghệ). Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp KH&CN có chuyển biến tốt sau khi tách sự nghiệp ra khỏi quản lý Nhà nước. Khối lượng kiểm nghiệm - kiểm định gia tăng theo từng năm, có hỗ trợ tích cực cho các tỉnh bạn, năng lực thử nghiệm được tăng cường. Hoạt động tư vấn, đào tạo, phổ biến thông tin KH&CN cũng có bước phát triển, đáp ứng một phần nhu cầu dùng tin trong sản xuất và đời sống.
  • Năm 1998, thực hiện Nghị quyết 2.TƯ (khoá VIII), Chương trình hành động của Tỉnh ủy về KH,CN&MT; UBND tỉnh đã chủ trương cho thành lập tổ chức quản lý hoạt động KH,CN&MT cấp huyện, Phòng Công - Thương và Khoa học Môi trường được đi vào hoạt động.

2. Một số kết quả hoạt động

  • Trong thời kỳ 1993 - 2003, số đề tài nghiên cứu phần nhiều có qui mô lớn và tập trung hơn, nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản trong thực tế sản xuất và trào lưu công nghệ mới. Đồng thời, đáp ứng và phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo. Đặc biệt là các dự án điều tra cơ bản môi trường, các dự án ứng dụng KH&CN (trong nông nghiệp - phát triển nông thôn, công nghệ thông tin) được Bộ KH,CN& MT quan tâm đầu tư cho Sở đã phát huy hiệu quả thiết thực.
  • Các nghiên cứu- ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về môi trường và tin học được phát huy mạnh. Về công nghệ thông tin đã tập hợp dữ liệu điều tra cơ bản tự nhiên - kinh tế - xã hội của tỉnh, ứng dụng hệ thống SNA,  xây dựng mô hình toán- thống kê và tin học phục vụ cho việc hoạch định chiến lược phát triển và xây dựng các phương án kế hoạch kinh tế- xã hội của tỉnh. Các dự án điều tra cơ bản môi trường đã đánh giá chất lượng môi trường nước, không khí, xem xét tính đa dạng sinh học trong tỉnh; qua đó, đã giúp cho công tác đánh giá phát triển bền vững của tỉnh, tạo điều kiện cho việc gắn khai thác tự nhiên với phát triển kinh tế- xã hội và BVMT. Một số các dự án đưa tiến bộ kỹ thuật vào nông thôn góp phần xóa đói giãm nghèo ở vùng sâu cũng được thực hiện tốt. Tiếp tục đầu tư vào lãnh vực công nghệ sinh học, tự động hóa, vật liệu mới. Những thành quả trong công tác quản lý KH&CN của thời kỳ này sẽ là tiền đề cho hoạt động KH&CN thời gian tới.
  • Hoạt động TCĐLCL có bước phát triển trong thời kỳ đổi mới. Năm 1994, hai phòng thí nghiệm Hoá lý và Vật liệu xây dựng được Tổng cục TCĐLCL công nhận mang ký hiệu: 41-VILAS-III, 42-VILAS-III. Phong trào chất lượng tại tỉnh tiếp tục phát triển. Do yêu cầu đổi mới của ngành KH,CN&MT, tổ chức Chi cục TCĐLCL có một số thay đổi. Nghị định 86/CP ngày 8/12/1995 của Chính phủ về việc quy định phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hóa, tạo điều kiện cho các ngành nâng cao vai trò, trách nhiệm quản lý chất lượng hàng hóa; đồng thời tăng cường chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng hành hóa của ngành KH,CN&MT. Sự thay đổi trên tạo điều kiện cho công tác quản lý TCĐLCL của Sở đi vào chiều sâu. Đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành qui định về phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hóa. Hỗ trợ các ngành tỉnh về mặt nghiệp vụ quản lý chất lượng. Phổ biến tiêu chuẩn TCVN, hệ thống quản lý chất lượng HACCP, Q-Base, TQM, ISO. 9000 cho các cơ sở sản xuất.
  • Về thông tin KH&CN và sở hữu công nghiệp, hoạt động phổ biến thông tin KH&CN được tập trung hơn vào phục vụ cho lãnh đạo, cho các nhà khoa học và đi sâu vào lãnh vực công nghệ thông tin, thực hiện hệ thống thông tin quản lý trong mạng thông tin quốc gia. Trong cơ chế thị trường, vấn đề bảo hộ quyền tác giả đóng góp vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, do chưa nhận thức đầy đủ lợi ích của công tác này, nên thời gian qua, hoạt động sở hữu công nghiệp chưa phát huy đúng mức.
  • Hoạt động quản lý môi trường tuy mới thực hiện gần đây, những “Chiến dịch bảo vệ môi trường” được tổ chức hàng năm là cao trào của công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong toàn tỉnh, được toàn thể nhân dân, các ngành, các cấp tích cực hưởng ứng. Đã góp phần làm xanh, sạch, đẹp thành phố, cũng như tăng cường bảo đảm vệ sinh môi trường nông thôn. Việc tuyên truyền giáo dục BVMT được chú trọng, đã tổ chức thường xuyên các hội nghị triển khai luật, nghị định, thông tư liên quan đến BVMT với hàng ngàn lượt người tham dự. Đã thẩm định trên 100 báo cáo đánh giá tác động môi trường của các cơ sở sản xuất, hoạt động này giúp giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất công nghiệp. Ngoài ra, để theo dõi thường xuyên diễn biến môi trường, hàng năm Trạm Giám sát môi trường đã quan trắc 160 mẫu nước mặt, 160 mẫu không khí trên toàn tỉnh và trên 80 mẫu nước thải của các cơ sở sản xuất.
  • Thời gian trước đây, công tác thanh tra chỉ tập trung lĩnh vực đo lường- chất lượng, từ khi thành lập Thanh tra Sở (1995), công tác thanh tra mới đi vào các lãnh vực đồng bộ về KH,CN&MT. Đến nay, đã thực hiện nhiều thanh tra về đo lường- chất lượng- môi trường. Qua đó đã xử lý vi phạm 323 lượt cơ sở. Đồng thời đã giải quyết nhiều đơn khiếu nại, tố cáo của dân, chủ yếu trong lĩnh vực môi trường. Các hoạt động thanh tra đã góp phần làm giảm tiêu cực trong các hoạt động sản xuất có liên quan đến KH,CN&MT, và tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

IV. THỜI KỲ PHÁT TRIỂN 2004-2009

1. Về tổ chức bộ máy

  • Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương được tách ra từ tỉnh Cần Thơ ngày 01/01/2004, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ được thành lập trên cơ sở của tỉnh Cần Thơ theo Quyết định số 12/2004/QĐ-UB ngày 02/1/2004 của UBND thành phố Cần Thơ.
  • Thực hiện thông tư số 05/2008/TTLB-BKHCN-BNV, UBND thành phố Cần Thơ ban hành quyết định số 97/2008/QĐ-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2008 về việc qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ gồm:

           a) Khối Quản lý nhà nước

            - Sở Khoa học và Công nghệ:

                        + Văn phòng

                        + Thanh tra

                        + Phòng Kế hoạch - Tài chính

                        + Phòng Quản lý khoa học

                        + Phòng Quản lý công nghệ

                        + Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ cơ sở

                        + Phòng Sở hữu trí tuệ

+ Phòng Quản lý An toàn bức xạ và Hạt nhân

            - Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (thành lập theo Quyết định số 51/2004/QĐ-UB ngày 09/01/2004)

           b) Khối Sự nghiệp:

- Trung tâm Thông tin - Tư liệu

- Trung tâm Kỹ thuật và Ứng dụng Công nghệ

Đầu năm 2008, 2 đơn vị sự nghiệp trên đã được UBND thành phố ra quyết định phê duyệt 2 đề án chuyển đổi mô hình hoạt động thành tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động theo quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ: Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 và Quyết định số 1192/QĐ-UBND ngày 21/5/20088. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ được thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sự nghiệp khai thác tốt nguồn lực sẵn có, kích thích sự chủ động, sáng tạo của từng cá nhân trong đơn vị, nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng được yêu cầu hội nhập.

Đội ngũ của Sở từ 68 còn 62 CC-VC (biên chế: 62), trong đó từ 1 trên Đại học của năm 1982 lên 16 (chiếm tỉ lệ 26% CC-VC).

           c) Khối Quản lý khoa học và công nghệ cấp quận/huyện:

Phòng Công - Thương huyện hoặc Phòng Kinh tế quận: 9 quận/huyện đều thành lập Hội đồng Khoa học và Công nghệ, tập hợp gần 100 nhà khoa học làm tư vấn cho phát triển KH&CN quận/huyện..

2. Một số kết quả hoạt động

 
  • Hoạt động KH&CN thời kỳ 2004 - 2008 tập trung phục vụ Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho TP. Cần Thơ đến năm 2020 Phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành khoa học và công nghệ của vùng đồng bằng sông Cửu Long; phục vụ Kế hoạch 10-KH/TU của Thành ủy Cần Thơ triển khai Nghị quyết 45-NQ/TW, tiến hành xây dựng 10 chương trình - 4 đề án phát triển thành phố; ngành KH&CN thành phố đã tích cực xây dựng và được phê duyệt theo quyết định số 1309/QĐ-UBND ngày 03 tháng 6 năm 2008 của UBND thành phố Chương trình xây dựng và phát triển khoa học công nghệ thành phố Cần Thơ đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020.
  • Trong giai đoạn 2004-2008, qui mô đề tài - dự án có kinh phí bình quân cao hơn, tăng từ 300 triệu (2005) lên 400 triệu đồng (2008) cho mỗi đề tài/dự án. Kết quả các đề tài ngày đi vào giải quyết những vấn đề trọng điểm, bức xúc phục vụ cho sản xuất, phát triển xã hội của TP. Cần Thơ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, y tế kỹ thuật cao, các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi, khoa học xã hội và nhân văn.
 
  • Về Khoa học xã hội và nhân văn, đã xây dựng luận cứ khoa học cho việc phát triển nguồn nhân lực, hoạch định nhu cầu và khả năng đào tạo cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý của thành phố. Đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, những giải pháp nhằm thực hiện tốt quy chế dân chủ ở các cấp. Hệ thống các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, dự báo định hướng về nhu cầu, phát triển, chuyển đổi cấu trúc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng lĩnh vực, từng ngành đem lại hiệu quả và sức cạnh tranh cao thời kỳ hội nhập WTO.
 
  • Về Khoa học tự nhiên và công nghệ, một số kết quả nghiên cứu trong những năm qua đã chuyển giao cho các đơn vị áp dụng vào sản xuất, trong đó có một số thành tựu khoa học mang tính tiên phong của vùng ĐBSCL như mô hình tăng thu nhập trên đơn vị diện tích mở đầu cho phong trào “3 giãm - 3 tăng” cả vùng ĐBSCL, được Bộ NN&PTNT đã công nhận 2 giải pháp được xem là tiến bộ khoa học kỹ thuật phòng chống rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá hiệu quả ở ĐBSCL là “gieo sạ đồng loạt né rầy” và “gieo mạ mùng”, chọn chủng nấm Trichoderma đã phát triển mở rộng thành sản phẩm được Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn đặc cách cho phép sản xuất chế phẩm sinh học Tricô-ĐHCT, kỹ thuật cho cá Thátt sinh sản đã chuyển giao cho 16 tỉnh trong cả nước, ứng dụng công nghệ thông tin về kỹ thuật GIS trong quản lý cơ sở dữ liệu bảo vệ thực vật và dự tính, dự báo khả năng phát triển và gây hại của một số loài  sâu bệnh hại lúa. Các kết quả được áp dụng đến năm 2008 giúp tăng  tỷ lệ áp dụng cơ giới hoá trong nông nghiệp như khâu làm đất đạt 100% diện tích, sấy lúa đạt 33,5% sản lượng, hệ thống thuỷ lợi chủ động tưới tiêu đạt 87,7% diện tích canh tác; diện tích lúa chất lượng cao hàng năm tăng dần, đạt trên 80% diện tích gieo trồng; kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển và từng bước chuyển dịch  theo hướng nông nghiệp đô thị, ứng dụng kỹ thuật cao.  Các kết quả nghiên cứu triển khai được ứng dụng trong lãnh vực y tế, BVMT cũng cho hiệu quả tốt trong phục vụ sức khõe cộng đồng và quản lý, quy hoạch, dự báo và khắc phục thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước.
 
  • Quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm đã đi vào chiều sâu, thông qua việc phân chia theo từng nhóm sản phẩm, hàng hóa để quản lý và kiểm tra sau công bố. Phổ biến các Hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến cho các doanh nghiệp; đến nay đã có trên 40 doanh nghiệp áp dụng và được chứng nhận các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.
 
  • Hướng dẫn 517 doanh nghiệp xây dựng 1.202 tiêu chuẩn cơ sở và thực hiện công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hàng hóa. Công tác quản lý Đo lường đã tạo chân rết quản lý tại các quận huyện, hướng dẫn các Phòng Kinh tế thành lập trạm cân đối chứng tại các chợ đầu mối giải quyết việc kiểm định cân thông dụng. Công tác kiểm tra hàng nhập khẩu đã kiểm tra được 1.250 lô hàng, tổng trị giá 265.473.311 (USD). Cải tiến phương pháp, sắp xếp hợp lý công việc thẩm xét hồ sơ và lấy mẫu thử nghiệm đảm bảo việc kiểm tra đúng tiến độ và chính xác, giải phóng lô hàng nhanh gọn, kịp thời cho doanh nghiệp.
 
  • Giải thưởng Chất lượng Việt Nam bước đầu đã tạo dựng được phong trào trong các doanh nghiệp để tham gia Giải thưởng Chất lượng Việt Nam hằng năm. Đến nay, TP. Cần Thơ đã có 18 lượt doanh nghiệp tham gia có 16 đơn vị đạt Giải thưởng Chất lượng Việt Nam.
 
  • Đề án 04/ĐA-UBND ngày 17/8/2007 của UBND thành phố Cần Thơ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2000 cho các đơn vị hành chính công TP. Cần Thơ giai đoạn 2007-2010 đã được triển khai thực hiện. Đến nay, có 15 cơ quan, đơn vị hành chính và 12 phường thuộc quận Ninh Kiều được cấp giấy chứng nhận; 21 đơn vị đang triển khai áp dụng.
 
  • Triển khai Luật Sở hữu trí tuệ và quyết định 36/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Theo công báo của Cục Sở hữu trí tuệ đến tháng 12/2008, TP. Cần Thơ hiện đứng thứ 6 trong 61 tỉnh thành có số giấy chứng nhận và bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp, với 1.169 giấy chứng nhận gồm: 1.041 nhãn hiệu, 124 kiểu dáng công nghiệp, 3 sáng chế, 1 giải pháp hữu ích.
 
  • Chương trình hỗ trợ phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ TP. Cần Thơ giai đoạn năm 2008-2010 và tầm nhìn đến năm 2020 được UBND thành phố phê duyệt theo quyết định số 2765/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2008. Đã tích cực hướng dẩn các sở ban ngành, các quận huyện; hỗ trợ các doanh nghiệp đăng ký quyền sở hữu công nghiệp.
 
  • Công tác thông tin KH&CN đã có sự phối hợp với báo, đài PTTH địa phương thực hiện các chuyên đề KH&CN (phát thanh 400 lần và phát hình 246 lần trên sóng AM và FM). Tuyên truyền và phổ biến thông tin bằng các ấn phẩm thông tin trên giấy và điện tử như Bản tin KH&CN phục vụ lãnh đạo (80 số/40.000 bản tin); Tạp chí Khoa học Cần Thơ (26 số/11.000quyển); Thông tin KH&CN phục vụ doanh nghiệp (17số/5.100 bản tin). Ngoài ra còn phục vụ cho lãnh đạo các tạp chí chuyên ngành KH&CN như báo Khoa học phát triển (1.665 tờ), Tia sáng (768 quyển), Tạp chí Hoạt động KH (1.189). Duy trì và cập nhật 3.000 thông tin KH&CN lên website Sở KH&CN Cần Thơ.
 
  • Tuyên truyền, giới thiệu về công nghệ, thiết bị mới thông qua tham gia hội chợ và tuyên truyền giới thiệu Chợ Công nghệ và Thiết bị Việt Nam, khu vực/vùng. Chợ Công nghệ và Thiết bị ĐBSCL 2008 (Techmart CanTho 2008) tại TP. Cần Thơ là chợ cấp vùng đã diễn ra từ ngày 27/11 đến 30/11/2008, với sự tham gia của 175 đơn vị nghiên cứu triển khai, các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý KH&CN 16 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, Nam Trung bộ, miền Đông, TP. Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội. Đã trưng bày 900 công nghệ và thiết bị được giới thiệu trực quan, gần 7.000 công nghệ được chào bán ở Techmart ảo, phổ biến trên 300 kết quả nghiên cứu triển khai, mang đầy đủ tính chất đa ngành, đa lĩnh vực. Đã ký kết được 604 bản ghi nhớ và với tổng giá trị trên 390 tỉ đồng. Chợ đã đón nhận trên 53.000 lượt khách đến tham quan từ các tỉnh thành vùng ĐBSCL, qua đó cho thấy người dân rất quan tâm đến lĩnh vực khoa học, tạo điều kiện gắn kết cung - cầu, tạo lập thị trường công nghệ của vùng.
 
  • Các hoạt động dịch vụ khoa học của Trung tâm Kỹ thuật và Ứng dụng công nghệ, Trung tâm Thông tin Tư liệu thuộc Sở đã giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất - chất lượng và hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản lý KH&CN trên địa bàn.
 
  • Thanh tra KH&CN với các nội dung thanh tra chủ yếu là việc thực hiện các quy định của Nhà nước về lĩnh vực KH&CN, phục vụ có hiệu quả công tác quản lý KH&CN tại địa phương.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản quyền © 2010 thuộc về Sở Khoa học Công nghệ Thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02 Lý Thường Kiệt, Phường Tân An, Quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0710.3821471, Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Bà Trần Hoài Phương - Phó Giám Đốc Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ