SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Xây dựng mô hình sàng lọc sớm, dự phòng và quản lý tiền sản giật trên thai phụ

[03/06/2026 14:37]

Sáng ngày 03/6/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ tổ chức họp Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình sàng lọc sớm, dự phòng và quản lý tiền sản giật trên thai phụ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ”. Đề tài do BS.CKII Nguyễn Thụy Thúy Ái và ThS.BS Lê Hồng Thịnh đồng chủ nhiệm; Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ là đơn vị chủ trì thực hiện.


Toàn cảnh buổi họp

Tham dự buổi họp có bà Lê Mỹ Hạnh – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ, Chủ tịch Hội đồng, cùng các thành viên hội đồng là đại diện các sở, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học và các chuyên gia trong lĩnh vực sản phụ khoa.

Hướng đến phát hiện sớm và dự phòng hiệu quả tiền sản giật

Tiền sản giật là một trong những biến chứng sản khoa nguy hiểm, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời. Trong bối cảnh nhu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ ngày càng được quan tâm, việc xây dựng mô hình sàng lọc sớm và quản lý hiệu quả tiền sản giật có ý nghĩa quan trọng đối với công tác chăm sóc thai kỳ.

Đề tài được triển khai nhằm xác định tỷ lệ thai phụ có nguy cơ cao tiền sản giật và các yếu tố liên quan ở nhóm phụ nữ mang thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày; xây dựng quy trình sàng lọc, dự phòng sớm tiền sản giật; đồng thời hình thành mô hình quản lý thai phụ nguy cơ cao có can thiệp điều trị dự phòng tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ.

BS.CKII Nguyễn Thụy Thúy Ái báo cáo đề tài trước hội đồng

Xác định tỷ lệ nguy cơ cao và các yếu tố liên quan

Kết quả nghiên cứu cho thấy 7,1% thai phụ được sàng lọc thuộc nhóm nguy cơ cao tiền sản giật. Phân tích số liệu xác định một số yếu tố liên quan độc lập với nguy cơ cao tiền sản giật như: thai phụ mang thai con so, chỉ số khối cơ thể (BMI) tăng, nghề nghiệp viên chức và trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống.

Bên cạnh đó, các yếu tố như tiền sử tăng huyết áp và tiền sử tiền sản giật được ghi nhận là những nguy cơ đáng lưu ý. Nghiên cứu cũng cho thấy các chỉ số sinh học và huyết động học như PIGF giảm, huyết áp động mạch trung bình (MAP) tăng và chỉ số Doppler động mạch tử cung (UtA-PI) tăng có giá trị rõ rệt trong việc phân tầng nguy cơ tiền sản giật ở thai phụ.

ThS.BS Lê Hồng Thịnh báo cáo đề tài trước hội đồng

Hoàn thiện quy trình sàng lọc và dự phòng sớm

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đã xây dựng thành công quy trình sàng lọc tiền sản giật trong quý I thai kỳ dựa trên mô hình đánh giá đa yếu tố, kết hợp giữa tiền sử sản khoa, đặc điểm lâm sàng và các chỉ số sinh học, huyết động học hiện đại.

Quy trình cho phép phát hiện sớm các trường hợp có nguy cơ cao để chỉ định điều trị dự phòng bằng aspirin theo khuyến cáo chuyên môn. Kết quả theo dõi cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng aspirin đúng hướng dẫn đạt 85,6%, góp phần giảm đáng kể nguy cơ xuất hiện tiền sản giật so với nhóm không tuân thủ điều trị.

Xây dựng mô hình quản lý thai phụ nguy cơ cao

Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là xây dựng và vận hành mô hình quản lý thai phụ có nguy cơ cao tiền sản giật kết hợp điều trị dự phòng bằng aspirin.

Kết quả thực tiễn cho thấy mô hình mang lại hiệu quả tích cực với tỷ lệ xuất hiện tiền sản giật chỉ 12,8%, phần lớn là các trường hợp nhẹ và xảy ra ở giai đoạn thai đủ tháng. Đáng chú ý, tỷ lệ sinh đủ tháng đạt 87,2%, trong khi 98,2% trẻ sơ sinh sinh ra khỏe mạnh, phản ánh hiệu quả của việc phát hiện sớm, theo dõi chặt chẽ và can thiệp kịp thời.

Hiệu quả chung của mô hình đạt 82,6%, khẳng định tính khả thi và khả năng ứng dụng cao trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở sản khoa.

Ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu ý kiến tại buổi họp

Đề xuất nhân rộng mô hình trong công tác chăm sóc thai kỳ

Trên cơ sở các kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu đề xuất triển khai rộng rãi quy trình sàng lọc tiền sản giật ở tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày tại các cơ sở khám, chữa bệnh chuyên ngành sản phụ khoa. Việc áp dụng quy trình này sẽ góp phần chuyển từ phương thức phát hiện và xử trí thụ động sang chủ động dự phòng, giúp giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm cho mẹ và thai nhi.

Đề tài cũng khuyến nghị tăng cường quản lý đối với các nhóm nguy cơ cao như thai phụ mang thai lần đầu, có chỉ số BMI từ 23 trở lên, có tiền sử tăng huyết áp hoặc tiền sử tiền sản giật. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe và theo dõi việc sử dụng aspirin nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị, qua đó nâng cao hiệu quả dự phòng bệnh.

Thống nhất nghiệm thu kết quả đề tài

Tại buổi họp, các thành viên Hội đồng đánh giá ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài, đặc biệt là việc xây dựng được quy trình sàng lọc và mô hình quản lý tiền sản giật phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Nhiều ý kiến nhận định kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại TP. Cần Thơ mà còn có thể tham khảo, nhân rộng tại các cơ sở sản khoa trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Kết luận buổi họp, Hội đồng thống nhất nghiệm thu đề tài, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến đóng góp, hoàn thiện báo cáo tổng kết và tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phạm vi ứng dụng mô hình nhằm nâng cao hiệu quả công tác dự phòng, quản lý tiền sản giật trong thời gian tới.

Sở KH&CN TP. Cần Thơ
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Trần Đông Phương An - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ