Nghiên cứu thành công giải pháp phòng trị bệnh xơ đen, thối thân xì mủ trên cây mít Hậu Giang
Ngày 21/10/2026, TS. Ngô Anh Tín, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ, chủ trì cuộc họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Nghiên cứu giải pháp phòng trị bệnh xơ đen và thối thân xì mủ trên cây Mít Hậu Giang (Artocarpus heterophyllus Lamk.),” cùng sự tham dự của các thành viên Hội đồng là lãnh đạo các sở, ngành.
Nhiệm vụ do ThS. Phùng Quang Tùng làm chủ nhiệm, Viện Bảo vệ thực vật là đơn vị chủ trì thực hiện. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn đối với sản xuất mít tại địa phương, tập trung xác định tác nhân gây bệnh, làm rõ điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh xơ đen trái và bệnh thối thân xì mủ, đồng thời nghiên cứu các giải pháp phòng trị phù hợp. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dịch hại mà còn hướng đến cải thiện năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế cho người trồng mít.

TS. Ngô Anh Tín, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ phát biểu kết luận tại buổi họp.
Xác định tác nhân gây bệnh, làm rõ nguy cơ phát sinh trên vườn mít
Tại buổi họp, Ban chủ nhiệm đã báo cáo khái quát mục tiêu, nội dung, phương pháp triển khai và các kết quả nghiên cứu đạt được. Nhiệm vụ tập trung vào ba nội dung chính: nghiên cứu xác định điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh xơ đen trái và bệnh thối thân xì mủ trên cây mít Hậu Giang; nghiên cứu, đề xuất các biện pháp kỹ thuật phòng trị; xây dựng mô hình và tổ chức tập huấn kỹ thuật quản lý hai loại bệnh trên cây mít tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu xác định vi khuẩn Pantoea stewartii SM 4.2 là tác nhân gây bệnh xơ đen mít và vi khuẩn Pantoea aroidearum CTN7 là tác nhân gây bệnh thối thân xì mủ trên cây mít Hậu Giang. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn các biện pháp kiểm soát phù hợp với đặc điểm của từng tác nhân gây bệnh.
Qua khảo sát, nguồn bệnh xơ đen và thối thân xì mủ đã hiện diện tại các vườn mít ở tất cả các vùng khảo sát. Bệnh phát sinh, gây hại mạnh trong mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 10. So với mùa khô, tỷ lệ nhiễm bệnh xơ đen tăng từ 3–3,7 lần, trong khi bệnh thối thân xì mủ tăng từ 2–5 lần. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các giống mít đang được trồng tại địa phương đều mẫn cảm với hai loại bệnh này; chưa ghi nhận sự xuất hiện của bệnh thối thân xì mủ tại các cơ sở cây giống trong phạm vi nghiên cứu.
Bên cạnh đó, mật độ trồng, chế độ chăm sóc và kỹ thuật quản lý, phòng trị bệnh có ảnh hưởng lớn đến mức độ gây hại. Những kết quả này cho thấy việc kiểm soát bệnh cần được thực hiện chủ động, kết hợp theo dõi diễn biến dịch hại với điều chỉnh kỹ thuật canh tác và áp dụng các biện pháp phòng trị phù hợp.

Toàn cảnh buổi họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu giải pháp phòng trị bệnh xơ đen và thối thân xì mủ trên cây Mít Hậu Giang (Artocarpus heterophyllus Lamk.)".
Tuyển chọn hoạt chất và vi sinh vật đối kháng, mở rộng hướng phòng trị bệnh
Trong nghiên cứu các giải pháp kiểm soát tác nhân gây bệnh, kết quả thí nghiệm cho thấy hoạt chất Oxolinic acid ở nồng độ 3,1 g/lít có khả năng ức chế mạnh vi khuẩn P. stewartii SM 4.2 và P. aroidearum CTN7, với đường kính vòng vô khuẩn tương ứng đạt 14,60 mm và 22,80 mm. Hoạt chất Bronopol ở nồng độ 0,72 g/lít cũng cho thấy khả năng ức chế mạnh vi khuẩn P. aroidearum CTN7, với đường kính vòng vô khuẩn 10,6 mm.
Đối với giải pháp sinh học, các vi sinh vật đối kháng Bacillus amyloliquefaciens, Trichoderma yunnanense và Streptomyces malaysiensis có khả năng ức chế mạnh vi khuẩn P. stewartii SM 4.2, với đường kính vòng vô khuẩn lần lượt là 11,2 mm; 11,8 mm và 13,2 mm. Riêng xạ khuẩn S. malaysiensis thể hiện khả năng ức chế trung bình đối với vi khuẩn P. aroidearum CTN7, với đường kính vòng vô khuẩn đạt 7,8 mm.
Các kết quả thí nghiệm góp phần cung cấp cơ sở để lựa chọn tác nhân và hoạt chất phục vụ nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ định hướng áp dụng đồng bộ các biện pháp canh tác, sinh học và hóa học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bệnh xơ đen và thối thân xì mủ trên cây mít tại Hậu Giang.

Tại buổi họp, ThS. Phùng Quang Tùng đã báo cáo các mục tiêu, nội dung, kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Mô hình thực tế đạt hiệu quả phòng trị trên 89%, lợi nhuận tăng đến 20,31%
Một trong những kết quả nổi bật của nhiệm vụ là xây dựng thành công 3 mô hình phòng trị bệnh trên cây mít, với tổng diện tích 1,05 ha tại phường Đại Thành, xã Phụng Hiệp và xã Phú Hữu, TP. Cần Thơ. Kết quả theo dõi cho thấy các mô hình áp dụng giải pháp kỹ thuật đồng bộ đạt hiệu quả tích cực trong kiểm soát bệnh, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với tập quán nông dân (TQND).
Đối với bệnh xơ đen trái, tỷ lệ trái mít bị bệnh tại các mô hình dao động từ 8,67% đến 9,23%, thấp hơn mức 14,24–18,12% ở các điểm đối chứng theo tập quán nông dân. Hiệu quả phòng trừ bệnh xơ đen tại mô hình đạt từ 89,09% đến 92,73%, trong khi mức hiệu quả ở các điểm áp dụng tập quán nông dân đạt từ 68% đến 78,18%.
Đối với bệnh thối thân xì mủ, tỷ lệ bệnh tại các mô hình chỉ từ 3,18% đến 4,8%, thấp hơn đáng kể so với mức 16–22% ở các điểm theo tập quán nông dân. Hiệu quả phòng trừ bệnh tại mô hình đạt từ 90,63% đến 93,33%, trong khi các điểm theo tập quán nông dân đạt từ 70% đến 77,14%.
Không chỉ cải thiện hiệu quả kiểm soát dịch hại, các mô hình còn ghi nhận kết quả tích cực về kinh tế. Hiệu quả kinh tế tăng từ 14,98% đến 20,31% so với tập quán nông dân; lợi nhuận sản xuất tại các mô hình đạt từ 30,682 triệu đồng đến 62,926 triệu đồng. Kết quả này cho thấy việc kết hợp các biện pháp kỹ thuật có thể góp phần giảm tỷ lệ bệnh, nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện thu nhập cho người trồng mít.
Tại buổi họp, Hội đồng đã đánh giá các nội dung nghiên cứu, phương pháp triển khai và kết quả thực hiện nhiệm vụ, làm cơ sở xác định mức độ đáp ứng các mục tiêu đề ra. Trên cơ sở thảo luận, Hội đồng thống nhất nghiệm thu, đồng thời đề nghị Ban chủ nhiệm tiếp thu các ý kiến góp ý, chỉnh sửa và hoàn thiện báo cáo tổng kết, mục tiêu nghiên cứu cùng các nội dung liên quan, bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ về mặt khoa học và phù hợp với kết quả thực tế.
Sở KH&CN TP. Cần Thơ