SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Khảo sát chỉ tiêu arsen vô cơ, coliform tổng số và escherichia coli của các mẫu nước đóng chai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu do các tác giả Lê Thị Hà, Ngô Kiến Đức - Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhằm định lượng arsen vô cơ và đánh giá chỉ tiêu coliform tổng số, E. coli của một số mẫu nước đóng chai trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Ảnh minh họa

Trong những năm trở lại đây, thị trường nước uống đóng chai ở Việt Nam phát triển với sự đa dạng về sản phẩm. Tuy nhiên kèm theo sự bùng nổ này là những vấn đề về chất lượng, và vệ sinh kém khiến cơ quan chức năng khó khăn trong kiểm soát cũng như gây hoang mang cho người tiêu dùng.

Hiện nay, trên thị trường tràn lan nhãn hiệu nước uống đóng bình, đóng chai dán nhãn là tinh khiết, là nước suối thiên nhiên. Tuy nhiên, không phải cơ sở sản xuất nào cũng có sự đầu tư nghiêm túc trong quy trình sản xuất để đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh cho sản phẩm. Đồng thời rất khó để kiểm soát chất lượng vì cơ quan quản lý nhà nước chưa đủ nhân lực và điều kiện để giám sát theo dõi một cách thường xuyên và hiệu quả.

Mặc dù nhiều cơ sở khi mang mẫu nước đi xét nghiệm đều đạt tiểu chuẩn về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm cũng như chỉ tiêu lý hóa, nhưng vấn đề đặt ra là liệu sau khi đã đăng ký chất lượng và đi vào hoạt động, việc sản xuất và bảo quản các sản phẩm nước đóng chai sau đó có tuân thủ quy trình đảm bảo chất lượng hay bị thả nổi, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu định lượng arsen vô cơ và đánh giá chỉ tiêu coliform tổng số, E. coli của một số mẫu nước đóng chai trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu: Kết quả thử nghiệm chất lượng nước uống đóng chai được đánh giá qua tiêu chuẩn được quy định trong QCVN 06-1:2010/BYT.  Đánh giá cảm quan mẫu nước thông qua chỉ tiêu pH. Định lượng arsen vô cơ trong mẫu thử bằng phương pháp quang phổ hấp thu nguyên tử kỹ thuật lò graphit (GFAAS), tiến hành qua hai bước: thẩm định quy trình định lượng, sau đó tiến hành xác định nồng độ arsen trong mẫu thử nghiệm. Phát hiện và đếm vi khuẩn coliform và E. coli trong mẫu nước đóng chai bằng phương pháp dùng màng lọc, phát hiện vi khuẩn coliform bằng thử nghiệm oxidase và xác định vi khuẩn E. coli bằng phản ứng indol.

Qua thời gian thực hiện, kết quả nghiên cứu cho thấy: Về chỉ tiêu pH, có 43,3% mẫu có pH < 6,5. Về chỉ tiêu arsen vô cơ, quy trình phân tích được thẩm định đạt yêu cầu và thu được kết quả như sau: khoảng áp dụng định lượng (đường chuẩn): 0,5 – 30,0 µg/l, giới hạn phát hiện: 0,0003 µg/l; giới hạn định lượng: 0,0009 µg/l; độ đúng: tỷ lệ % thu hồi nằm trong khoảng 85 – 115%, RSD% ≤ 10%; độ lặp lại: RSD% ≤ 10%. Tất cả mẫu thử nghiệm đều có nồng độ arsen nằm trong giới hạn cho phép (≤ 10 µg/l). Phương pháp dùng màng lọc được áp dụng đạt kết quả tốt với tỷ lệ thu hồi cao > 80%. Về chỉ tiêu coliform, 23,33% mẫu không phát hiện vi khuẩn, 26,66% mẫu phát hiện vi khuẩn nhưng không phải coliform, 50% mẫu nhiễm coliform trong đó 6,67% không đạt chỉ tiêu coliform tổng số. Không phát hiện E. coli trong bất kỳ mẫu nào.

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các mẫu đều đạt chỉ tiêu arsen vô cơ và E. coli trong nước. Trong đó 6,67% mẫu thử nghiệm không đạt chỉ tiêu coliform tổng số.

Vân Anh

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh (Phụ bản tập 23 - Số 2- 2019)
Bản quyền @ 2017 thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số 02, Lý Thường kiệt, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292.3820674, Fax: 0292.3821471; Email: sokhcn@cantho.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Bà Trần Hoài Phương - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ